PDA

View Full Version : Tự Luyện Bát Đoạn Cẩm Thiếu Lâm



anbinh
09-30-2010, 04:13 AM
http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC-00-1.jpg

MỤC – LỤC

Lời Tựa

Chương Thứ Nhất

1. Bát Đoạn Cẩm là gì ?
2. Sự khác giữa Bát Đoạn Cẩm và Nội Công ?
3. Sự thành công của Bát Đoạn Cẩm

Chương Thứ Nhì

Tám đoạn của Bát Đoạn Cẩm

1. Đệ nhất Đoạn Cẩm: Lưỡng Thủ Kình Thiên Lý Tam Tiêu
2. Đệ nhị đoạn Cẩm: Tả Hữu Khai Cung Xa Điêu
3. Đệ tam đoạn Cẩm: Điều Lý Tỳ Vị Đơn Cử Thủ
4. Đệ tứ đoạn Cẩm: Ngũ Lao Thất Thương Vọng Hậu Tiền
5. Đệ ngũ đoạn Cẩm: Dao Đầu Bài Vĩ Khứ Tâm Hỏa
6. Đệ lục đoạn Cẩm: Bối Hậu Thất Điên Bách Bệnh Tiêu
7. Đệ thất đoạn Cẩm: Toàn Quyền Nộ Mục Tăng Khí Lực
8. Đệ bát đoạn Cẩm: Lưỡng Thủ Phan Túc Cố Thận Eo

Chương Thứ Ba

PHẦN PHỤ THUỘC 12 đoạn:

Đệ nhất đoạn: Hai tay đưa lên xuống (căn bản từ Đạo Gia của Lão Tử)
Đệ nhị đoạn: Đứng lên ngồi xuống (căn bản môn thể dục Hy Lạp)
Đệ tam đoạn: Đưa hai tay ngang bằng ra sau (từ Ngũ Cầm Đồ của danh y Hoa Đà)
Đệ tứ đoạn: Chân co chân duỗi hai tay ấn gối (căn bản thể dục Hy Lạp)
Đệ ngũ đoạn: Đưa tay nghịch chiều trên đầu sau hông (từ vũ điệu Á Châu)
Đệ lục đoạn: Xoay tay thành vòng trước mặt (từ thể dục Hy Lạp)
Đệ thất đoạn: Xoay tay thành vòng hai bên (từ thể dục Hy Lạp)
Đệ bát đoạn: Xoay cổ (căn bản từ Đạo Gia Lão Tử)
Đệ cửu đoạn: Cúi người bó gối (căn bản từ Yoga Ấn Độ)
Đệ thập đoạn: Tư thế con rồng (căn bản từ Ấn Độ)
Đệ thập nhất đoạn: Khấu Xỉ (căn bản từ Đạo Gia)
Đệ thập nhị đoạn: Phúc hô hấp tức thở bằng bụng (căn bản từ đạo gia Lão Tử).

-----------------------------------
Nguồn: thuvienvietnam.com

anbinh
09-30-2010, 04:22 AM
LỜI TỰA

Ngày càng văn minh, nhờ Khoa Học đối chứng mà người ta khám phá ra Nội Công là môn tuyệt diệu để tu luyện cho đặng tăng tiến sức khỏe vạn năng và sống lâu trăm tuổi. Do đó số người nghiên cứu và luyện tập lại càng tăng thêm, không riêng gì Thiền Sư, Cư Sĩ, Tu Sĩ, Võ Gia,… mà văn nhân, lãng tử, người trí lự đều tìm cách trau dồi môn học.

Nhưng tại quê nhà, học giả vấp phải trở lực lớn là thiếu tài liệu chân thực. Các sách xưa rất đỗi đơn sơ, mà kiến văn người dịch thuật bây giờ lại càng nông cạn hơn cách hành văn mộc mạc của cổ nhân, thì sách xưa hóa ra là kỳ quan để ngắm chơi chớ không làm sao hiểu được.

Còn những sách treo bán ngoài chợ ai cũng công nhận có mua cũng chỉ đọc chơi cho vui mà thôi không thể học hành gì được, vì người viết kiến thức đôi khi chẳng hơn gì người đọc… lại ngôn ngữ bất đồng.

Đứng nhìn học giả ngẩn ngơ trước hố trủng của ngành học thuật, soạn giả đành bấm bụng mang kinh nghiệm nửa đời tu luyện và dạy học trò ra biên thành sách Nội Công nầy để chư học giả tiện bề nghiên cứu.

Bộ môn Nội Công cao tuyệt, hay tuyệt nhưng không ngoài ba cuốn:


Tự Luyện Nội Công Thiếu Lâm Tự, được in cuối năm 1973 là cuốn cao nhất.


Tự Luyện Nội Công Thiếu Lâm Sơn Đông, in giữa tháng 6 năm 1974 là cuốn có trình độ trung bình, dành cho người có sức lực và các cấp võ gia đã có trình độ võ công rèn luyện.


Cuốn sau cùng là cuốn quý vị đang cầm trên tay đây, là cuốn thấp nhất dành cho người Sơ căn, tức là mới bắt đầu. Các học giả, võ gia yếu đuối tập hoài không tiến bộ, các võ sinh, văn nhân, thi sĩ, học giả, quan chức các ngành v..v… đều có thể khởi đầu bằng cuốn nầy để tạo dựng một sức khỏe chắc chắn và tốt đẹp. Cuốn sách nầy ngoài sự giúp học giả tăng bổ sức lực nhờ cách vận động Đả Thông Kinh Mạch, nó còn giúp đỡ võ gia phát triển nguồn Nội lực sung túc đến tột độ và hiệu năng đòn thế đạt đến tối đa. Do đó Ông Bà xưa dạy Bát Đoạn Cẩm song song với Quyền Cước khi mới bước chân vào nhà Thầy.

Sự hay của môn Bát Đoạn Cẩm kể ra không hết, nửa đời tu luyện thân tâm Cư Sĩ soạn giả phát kiến nhiều lợi ích mà người thường không thể nghĩ bàn, mà đôi khi những Võ gia ít kiến thức cũng càng ngơ ngác: Như các Công phu nằm phình bụng cho xe hơi cán, búa tạ đập, dao bén chém, đi trên chông nhọn, đạp trên đao kiếm bén, bật ngón tay đâm thủng ván tắp mỏng, v…v… cũng đều do tu luyện Nội Công, Bát Đoạn Cẩm mà có.

Nhưng điều quan trọng hơn nữa đối với đa số nhơn loại là làm sao giữ vững tuổi xuân… thì đây, môn học nầy sẽ giúp quý vị chận đứng tuổi già, xô ngã yếu đuối, bồi bổ và xây dựng nét đẹp hùng tráng, uy nghi của một đấng trượng phu, cuộc đời còn lại mỗi ngày càng thêm trong sáng, vui tươi vì tâm hồn đã trong sạch, đã cao thượng, quý vị đã có tất cả vì Sức Khỏe Là Vàng…

Hôm nay soạn giả tâm sự cùng chư học giả điều bổ ích trên chính là có thể trợ duyên lành trên bước đường thành công của chư vị. Cái đó gọi là Quân Tử có miếng ngon cùng nhau ăn, có rượu quý mời nhau nhắm, có thơ hay cùng nhau ngâm…

Và hôm nay với món trân quý nầy “Sách Bát Đoạn Cẩm” mà cũng được người Quân Tử luận bàn bầu bạn thì trên đời nầy chữ Bồng Lai Tại Thế há không để chỉ chỗ chúng ta đang tọa đây thì còn ở đâu nữa. Vui thay. Vui thay.

Soạn giả mừng học giả và chư quân tử phước lành, điều tốt, thành công đến gần.


SOẠN GIẢ CƯ SĨ
Gia Định Thành, Tiết Hạ Chí, Năm Giáp Dần
Nhằm tháng 6 ngày 24 năm 1974 Tây Lịch

...

anbinh
09-30-2010, 05:10 PM
Chương Thứ Nhất

I. BÁT ĐOẠN CẨM LÀ GÌ ?

Có lẽ quá xa xưa theo truyền thuyết, thuở các vị vua hiền đức và tài năng như Thần Nông, Phục Hi, Hoàng Đế đã có người am hiểu tận tường về môn học nầy, có nhiều người luyện tập và coi như một phép dưỡng sinh cần thiết tối yếu. Chính nó bắt nguồn và song hành phát triển cùng môn học Châm Cứu, một môn Y Học giá trị ngày nay đang được các Bác Sĩ trên Thế giới gia tâm nghiên cứu thực hành v…v…

Cho đến đời Tam Quốc (213-260), vị Thần Y Hoa Đà bổ cứu và đặt chế thêm cùng biến đổi thành môn luyện tập mới đặt tên là Ngũ Cẩm Đồ. Nhưng chính những động tác Bát Đoạn Cẩm là căn bản. Và xét trên phương diện khoa học thì môn Bát Đoạn Cẩm có ít động tác, đơn giản hơn Ngũ Cầm Đồ, do đó thích hợp với người xưa hơn… Dù thế nào đi nữa mục đích chính của môn học vẫn là làm lưu thông Kinh Mạch, khí huyết thuần nhuận làm tăng gia tuổi thọ cường kiện thân xác, minh mẫn tinh thần, rất hợp với Y Đạo ngày xưa.

Qua những suy luận và đoán quyết môn Bát Đoạn Cẩm, môn học Khai Thông Khí Lực Kỳ Kinh Bát Mạch đã có từ Cổ thời Trung Quốc, nhưng vẫn còn nằm trong dự thuyết vì chưa có bằng chứng xác thực. Và phải đợi đến thời Chùa Thiếu Lâm phát triển nghệ thuật chiến đấu Kỹ Kích (Võ thuật) thì môn Bát Đoạn Cẩm mới chính thống được lưu truyền có phép tắc kỷ cương. Kể từ đó, môn Bát Đoạn Cẩm lan truyền mau, rộng và được người đời ngưỡng mộ tập luyện như môn phép tắc bí truyền . Như vậy thời môn Bát Đoạn Cẩm do ngài Thiền Sư Tổ Đạt Ma dạy, là học thuật mang từ Thiên Trúc (Ấn Độ) qua? Nhưng xét theo dữ kiện lịch sử thì bên Ấn Độ không có môn học nầy. Người ta quả quyết rằng ngài Tổ Sư sáng chế môn Bát Đoạn Cẩm để dạy môn đồ cho cường kiện thân tâm hầu mau đạt hạnh tu Chánh Kiến, Chánh Giác, là một hình thức tiên khởi cho môn học tối thượng Dịch Cân Pháp mà ngài sáng tác sau này.

Người Trung Hoa vốn là dân tộc hay sáng kiến, nên môn đồ của ngài Đạt Ma Tổ Sư ở hậu lai có nhiều vị biến chế những học thuật học được ở Ngài thành nhiều môn học chuyên biệt khác, lập thành môn phái truyền bá sâu rộng trong phàm dân Trung Quốc cho đến ngày nay. Đó là gốc của Bát Đoạn Cẩm Thiếu Lâm….

Còn như có nhiều thuyết cho Bát Đoạn Cẩm do Nhạc Phi chế ra chắc là không đúng vì một Đại tướng chuyên đánh trận không có thì giờ và tâm hồn không đặng thanh nhàn để nghĩ ra những điều ký bí ít ra cũng phải cần phải đến một Đạo gia mới có thể nghĩ tới.

Và Đạo gia cũng có môn Bát Đoạn Cẩm, song hành và phát triển cùng thuật Vận Khí là phép luyện Nội Công chân truyền, được nhiều sách của các Đạo Sĩ nhắc đến, cùng được các quyền gia chuyên luyện Võ Công Đạo Gia: (Bát Quái Chưởng, Thái Cực Quyền) học tập.

Trên đây là sự hiểu biết cần thiết về môn học cẩn yếu Bát Đoạn Cẩm cho một võ gia, nhưng điểm cần yếu hơn tưởng không thể quên đề cập trước khi bắt đầu tập luyện là: Bát Đoạn Cẩm là gì?

- Soạn giả xin trả lời gọn, Bát Đoạn Cẩm là Tâm Phép tập cho đả thông Kinh Mạch, khí lực thuần nhuận lưu thông đến mọi phần trong cơ thể giúp hành giả (người học) thân thể thường được cường kiện khinh linh vô bệnh, trường thọ đúng đạo dưỡng sinh. Ngoài ra còn có công năng tạo dựng sức mạnh gân thịt cho Võ gia tạo điều kiện tham học tới chỗ đại thành, trị lành mọi bệnh Nội thương do tập luyện quyền thuật gây ra.

Bát Đoạn Cẩm quả thật có công năng thần diệu vô song cải tạo sức khỏe, tăng tiến thể lực và rèn luyện thân tâm hợp nhất, là môn học thuật thể thao xây dựng đáng được đề xướng, tôn vinh…

II. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA BÁT ĐOẠN CẨM VÀ NỘI CÔNG

Võ Học và nhiều ngành Văn Hóa khác rất vĩ đại, cổ thời đã phát xuất từ Trung Quốc, điều nầy cho đến nay không còn ai phủ nhận. Theo vết dầu loang, gần hấp thụ trước, xa lãnh hội sau… Việt Tộc là một Tiên quốc văn minh truyền thống gốc ở Ba Thục bên Tàu là một đàn anh trong Bách Việt nên trước hơn ai hết lãnh hội, tiêu hóa, và phổ biến nền học thuật trung quốc nói chung và Việt nói riêng.

Khi Việt Tộc ta di dân xuống cõi Nam đã mang theo nhiều ngành học thuật cao quý vĩ đại của Tổ tiên, dĩ nhiên một phần còn lại, và để lại cho Bắc quân từ phương Bắc tràn xuống…trong đó ngành Võ học được chúng ta soi sáng trong tiêu mục nầy.

Việt Tộc vốn là dân Quân Tử và thông minh (Khổng Tử thường xướng thuyết Quân Tử để người Bách Việt bên Tàu học: dĩ nhiên có thiểu số người Việt không nối nghiệp nổi Tổ Tiên nên lạc nẻo tiểu nhân.) Với huyết thống tri hóa xuất chúng, người Việt Nam đương nhiên thu nhận được ngay những kỹ thuật võ công từ Chùa Thiếu Lâm truyền ra trải qua các triều đại sau đời ngài Tổ Sư Đạt Ma. Cũng nhờ vào tài ba võ dũng và trí hóa ưu hạng mà Lịch sử Việt ghi được những điểm son đáng làm ngạc nhiên thế giới ngày nay. Sự bành trướng biên thổ Việt là lẽ dĩ nhiên ở cổ thời, cận đại và tương lai…sự lớn mạnh của Việt Nam là lẽ tất nhiên và trên đà hiển hiện. Sự huy hoàng của dân Việt phải được phục hồi như ngày mà tổ tiên còn ở Ba Thục…

Trong cổ thời, đồng phát triển Võ Nghệ Thiếu Lâm Tự trên lãnh thổ Việt, nhiều nhân tài tướng quân xuất hiện trong quân ngũ, trong các kỳ thi của Triều đình. Võ được phát hiện chung thời với các Thiền Lý được truyền bá từ các Thiền Sư. Các Thiền Sư giỏi đều là những bậc có thành quả về Thiền Định, mà chánh quả của Thiền Định là Tĩnh luyện Nội Công, môn võ học thượng thừa (ngày nay ít người biết lý nầy.)

Do đó kể từ đời Thiền Sư Tỳ Ni Đa Lưu Chí (Vinitaruci) năm 602…trở về sau Thiền Sư Pháp Hiền, 626, Thanh Biện… 636… thì môn Thiền học cùng Nội Công Tĩnh Tọa Thiền Định đã được truyền bá có hệ thống tại Việt Nam rồi.

Như chư học giả đã hiểu, trong sách Tự Luyện Nội Công Thiếu Lâm Tự của soạn giả, thì khác biệt giữa Thiền Định và Nội Công Tĩnh luyện chỉ cách nhau tờ giấy mỏng, chỉ một lời nói của bậc Thầy là người có công phu Thiền Định tức khắc trở thành Nội Công cao thủ: “Tâm ấn chỉ có một lời.”

Nội công và Thiền Định đều nhằm luyện khí lực, tập trung và luân chuyển theo như ý. Võ gia dụng Nội Công khí lực đả thông kinh mạch làm tăng bổ sức mạnh đạt chỗ đại thành trong nghề võ, Thiền Sư dụng Khí Công cường kiện thân tâm kiên trì khổ hạnh tập trung ý chí, nhất tâm đạt đến chánh giác chánh kiến thành bậc Chân Như gọi là Đắc Đạo.

Bát Đoạn Cẩm cùng một thể với Dịch Cân Kinh hay Dịch Cân Pháp nhưng thông dụng và để rèn luyện cũng hữu dụng hơn là phép Nội Công thuộc về Động luyện. Cốt là luyện cho cường kiện gân mạch, cứng chắc thịt xương da, đả thông kinh mạch, tránh nhiểm bệnh hoạn hầu sống lâu và giúp phần thành quả Đại thành võ nghệ.

Nếu ví cho rõ hơn thời Bát Đoạn Cẩm như vỏ ngoải của chiếc bánh ít, mà nhân là Nội Công Thiền Định. Cả hai cũng là Nội Công nhưng cái thì thấp cái thì cao minh thâm thúy hơn nhiều. Phật gia tùy từng Duyên mà giáo độ môn đồ nên có thấp cao, có tùy Duyên khởi. Nhưng dù ai có Duyên lớn tới đâu vẫn phải tập Bát Đoạn Cẩm nầy trước rồi sau mới học đến Thiền định, nếu là người xuất gia, còn phàm nhân ăn mặn thì chỉ tập Bát Đoạn Cẩm hoặc Dịch Cân Pháp cho mạnh gân cứng xương dẻo thịt là tốt rồi. Phép luyện Nội Công Thiết Tuyến mà soạn giả trình bày trong sách Tự Luyện Nội Công Thiếu Lâm Sơn Đông là động luyện rất tốt cho các Võ gia hoặc Thiền gia tham cứu về võ công.

Vậy thời sự phân chia đã rõ: Bát Đoạn Cẩm là phép Nội Công Ngoại Tráng Sơ Đẳng. Nội Công Thiết Tuyến là Nội Công Động Luyện có dụng cụ. Nội Công Thiếu Lâm Tự là phép Tĩnh Tọa Thiền Định cao tuyệt khi nào ăn chay trường tập mới kết quả.

Cùng một môn học mà chia làm ba pháp luyện tập khác nhau là do chỗ thấp cao tùy dụng. Khởi tập thì tập Bát Đoạn Cẩm trước cho gân xương cứng cáp, trong mình có sức lực rồi mới tập đến Nội Công Sơn Đông. Khi đã đủ sức tranh tài hàng Cao đẳng mà thần trí thong dong trường trai tiết dục được mới tập tới Nội Công Tịnh Tọa, tức cuốn Tự Luyện Nội Công Thiếu Lâm Tự. Có biết cách luyện tập thì mới dễ thành công, bằng không thì thời giờ bị phí mà thân thể đôi khi thương tổn hư hao mất công chữa trị. Duy ngoại trừ những học giả có võ công cao, các võ sư có căn bản thì có thể bắt ngang từ Nội Công Sơn Đông mà luyện cho mau thành công cũng chẳng hại gì, vì ít ra một phần kinh lạc trong người của người có trình độ võ công cũng đã được khai mở nhờ công phu luyện tập quyền cước. Ở trình độ cao của bộ môn Nội Công người lỗ mãng, thô tục, thiếu đạo đức không thể luyện tập được, cưỡng tập sẽ bị bệnh nguy hại bản thân rất khó trị liệu. Bởi thế xưa nay người ta vẫn thấy người võ công cao bao giờ đạo đức cũng sáng chói, người có nhiều tham vọng chỉ gặt hái những thành quả tầm thường. Kẻ hung hăng thì sát nghiệp ở kế bên mình. Chắp tay sau đít nhìn thiên hạ qua đường cũng phát kiến được những điều hữu ích để tự tu rèn tâm tính, phát triển thể lực hầu càng ngày được lành mạnh vui tươi, sống lâu hưởng đời.

Trên đây là luận về Nội Công, Bát Đoạn Cẩm Phật Gia, còn Tiên Gia cũng có môn Nội Công Dẫn Khí và Bát Đoạn Cẩm mà người đời thường gọi là Phép Đạo Dẫn hay và Vận Khí Thuật, v..v…hình thái biểu diễn động tác có chỗ khác nhưng mục đích không khác và thành quả thì đến chỗ như nhau. Cái đó gọi là Núi có một đỉnh mà đường lên có nhiều.

Vậy môn sinh hậu học từ nay chớ thắc mắc đua đòi, xao lãng việc rèn luyện, cứ mãi so đo rồi rốt cuộc chẳng đi đến đâu. Sách đã trong tay rồi như thuốc trước miệng mà đành chết bệnh, kiếm đã trong tay rồi mà chúng đâm không biết đưa lên đỡ thì sinh mạng ấy tưởng có chết đi cũng chẳng thể có vị Bồ Tát nào khứng cất nhắc cho về cõi Tây Phương cực lạc. Ngu độn, hàm hồ là đáng ở lại trong hỏa ngục chịu nhiều luân kiếp đọa đày; Phật nói như vậy không phải là lời suông qua gió thoảng.

...

anbinh
10-02-2010, 02:39 AM
Chương I (tt)

III. SỰ THÀNH CÔNG CỦA BÁT ĐOẠN CẨM

Nếu thông thường như nhiều bậc chép sách thì soạn giả cũng sẽ chép ra đây nhiều chuyện cổ tích ly kỳ của người xưa trên đường thành quả Nội Công, Bát Đoạn Cẩm. Nhưng soạn giả không thích bị lôi cuốn vào hàng (nghe sao chép vậy), mà thường chỉ đơn cử những ví dụ mắt thấy tai nghe, hoặc bản thân thực hành được, v..v

Tiếc thay chuyện bên Tàu thì nhiều mà bên Nam ta quá khiêm nhường đến độ khó lòng đơn cử cho thật đích danh với đầy đủ thành tích chơn thật, đến đâu, vị Lão sư nào cũng nói mở đầu bằng: Hồi xưa. Nghe người ta nói, người ta đồn rằng, và tiếp theo đó là những chuyện dường như hoang đường vì thiếu tính cách Khoa học. Tóm lại là những chuyện chưa bao giờ thấy.

Trước thời buổi khoa học ngày nay, mọi ngành học thuật cũng phải được nhìn dưới con mắt khoa học, nghĩa là giải thích được, hợp lý và ít ra cũng phải có một ví dụ làm bằng. Soạn giả vì chủ trương không làm mê hoặc hậu sinh nên không ghi lại những cố sự hoang đường đọc được, nghe được trong đời tu học của mình, mà chỉ nêu lên những điều dễ nhận định

Như soạn giả đọc thấy nhiều sách xưa đơn cử nhiều danh gia võ học cao thủ bên Tàu nhờ luyện tập Võ Nghệ, dĩ nhiên chuyên luyện Nội Công sống lâu và rất khỏe mạnh, ngày nay một vị lãnh tụ của Trung Quốc đã 90 tuổi mà vẫn còn mạnh khỏe vui tươi lãnh đạo 800 triệu dân, nhờ tập Bát Quái chưởng và Thái Cực Quyền mỗi buổi sáng. Chuyện nầy báo chí Pháp, Mỹ đăng tải từ lâu có cả hình ảnh (Thái Cực và Bát Quái là môn Nội Công của Tiên Gia). Ông của soạn giả năm nay 92 tuổi mà còn cỡi xe đạp hơn ba mươi cây số thăm bà con, cùng đi lụp (đánh bẩy) chim cu suốt ngày không biết mệt là nhờ chân luyện vài thế trong môn Bát Đoạn Cẩm mỗi tối trước khi đi ngủ, cùng suốt đời không uống rượu, không hút thuốc. Thầy của soạn giả là bậc chân tu không lậu sự, diệt danh, người truyền thụ môn Nội Công thượng thừa cho soạn giả, năm nay đã tám mươi lăm (85) tuổi rồi mà còn tốt tướng, một mình tịnh tu một chùa (động), không cần đồ đệ tăng tiểu phụ giúp mọi sự. Quanh năm khí lạnh cao nguyên mà người vẫn độc một mảnh Đạo bào đơn sơ, ngày hai buổi công phu luyện tập Nội công Thiền định mà đạt thành chánh quả như thế. Ai có chân phước gặp người tất thấy sự trong sáng của Từ Bi Hỉ Xả trên ánh mắt của người.

Riêng bản thân soạn giả thuở thiếu thời ốm yếu xanh xao, người ta kêu là con sát nuốt phải gởi cho chùa nuôi, 12 tuổi mới xin về soạn giả nhờ ông bác ở trong chùa dạy cho Bát Đoạn Cẩm và ít quyền thảo, và soạn giả cứ theo đó tập tành cho có lệ, thế mà thời gian mấy mươi năm lần lữa khi thành trang thanh niên thì soạn giả đã biến đổi hẳn hình dong. Sự cường mạnh thấy rõ trong con người vốn tiên thiên bất túc. Và cho đến bây giờ tuổi trời hơn nửa đời mà bất kỳ ai đối diện có trình độ cũng phải chấp nhận là một người có dõng lực, còn bậc phàm phu thì chẳng hết lời ngưỡng mộ đường nét khôi vĩ tinh kỳ Ấy khởi đầu cũng nhờ luyện tập Bát Đoạn Cẩm ở tuổi ấu thơ, đành rằng trong thời niên thiếu ngoài việc luyện cầm chừng môn Bát Đoạn Cẩm soạn giả còn luyện quyền thuật, và đến tuổi thanh niên thì càng tăng gia tu học quyền thuật cùng rèn luyện Nội Công chân chính Cho đến này thì công phu đáo thành: cánh tay đưa ra để mềm 5-6 người lực lưỡng không bẻ gập lại được, cho búa tạ đập, dao bén chém., nằm phình bụng cho xe hơi cán đủ chỗ, đủ kiểu không cần nịt bụng hay lót đà ván, chân trần đi trên chông nhọn, đạp trên đao, kiếm sắc bén, bật ngón tay đâm thủng ván tấp mỏng, vv (Những thành quả trên có biễu diễn tại nhiều hội trường cho các võ gia, quan viên giáo chức cùng môn sinh nhiều môn phái xem chơi, có chụp hình in trong sách Tự Luyện Nội Công Thiếu Lâm Tự v.v) Điều đặc biệt mà soạn giả rất vui là thấy công phu đã truyền lại được cho nhiều võ gia hậu học đệ tử đã tham học với soạn giả, một phần cũng được các học viên các Lớp Hàm Thụ lãnh hội, rồi đây chẳng bao lâu nữa nghành nghệ thuật dưỡng sinh nầy được mọi người mến mộ rèn luyện thành công.

Sự thành công của soạn giả không phải vô tình, sự thành công của môn đệ của soạn giả cũng chẳng phải vô tình hay may mắn mà do sự chuyên cần luyện tập có phương pháp. Vậy soạn giả kết luận là bất kỹ võ gia nào thành tâm luyện tập thì nhất định sẽ thành công.

Với môn Bát Đoạn Cẩm nầy người tập không cần kiêng cữ nhiều như các môn Nội Công Thượng Thừa. Nhưng dù sao vẫn tránh vài việc mới có thể mau tiến bộ. Như các võ sư có tuổi đã có vợ con thì tránh phiền não, bớt giao hoan và phải luyện tập cho có điều độ ít ra mỗi ngày một lần vào buổi bình minh. Các võ sư trung niên và trẻ hiếu thắng thích rượu nhiều và nữ sắc nhiều phải từ từ bỏ bớt thì mới mau thành. Chớ có liều mạng ỷ sung sức nhờ tập luyện quyền thuật mà có tinh lực dồi dào đem sức sống đổ biển thì công phu võ học chẳng khác ngôi nhà sơn tốt mà mối mọt đã đục rệu hết rồi. Bốn mươi, năm mươi mà chân di không nổi, chống gậy mà lê từng bước một là do tửu sắc dâm ô. Nghề võ như thế thì chớ nên khua môi có ngày mang hại.

Trên đây là đường thành bại của công phu luyện tập Bát Đoạn Cẩm Nội Công, học giả khá tựa nương đó hành sự cho đặng khang an thân thể linh mẫn tinh thần, sống lâu trăm tuổi.

Còn điều xin nói ra cùng chư võ gia quân tử, như cho đến nay việc biểu diễn thành quả của soạn giả cùng các đệ tử của soạn giả là điều nhằm nêu lên chứng tích của sự học luyện thành công để chư quân cùng phấn khởi tinh thần hầu bước mạnh trên đường nghệ thuật chớ chẳng phải có ý vọng động kia khác. Soạn giả thay mặt các Đạo đồ môn đệ thanh minh cùng chư học giả mọi môn phái võ gia trong và ngoài nước.

Mời chư học giả nghiên cứu sang phần thực hành để thân thường an lạc, trí thường thảnh thơi.

...

anbinh
10-02-2010, 08:47 PM
Chương Thứ Nhì

Bát Đoạn Cẩm Thiếu Lâm Tự


Bát Đoạn Cẩm là tám phép luyện gân thịt và khí lực cho đặng sung mãn, giúp ích sống lâu vui hưởng cuộc đời. Người có sức khỏe thì giống người đi buôn có vốn, muốn mua hàng hóa gì cũng tùy nghi. Tập Bát Đoạn Cẩm này trẻ mau lớn, học giỏi, khôi ngô, mặt mày sáng sủa, lành mạnh tư tưởng. Trung niên tăng thêm khí lực, phát triển khả năng tổng quát, nhờ đả thông kinh mạch mà huyết khí sung cường hăng say làm việc, tiến bộ mọi mặt, người có tuổi thường xuyên luyện tập huyết khí luân chuyển và thay đổi luôn luôn nên da dẻ hồng hào, gân xương hoạt bát chận đứng tuổi già, yêu đời vui sống, thật là hạnh phúc lâu dài, các môn thể dục vận động Tây Phương không có môn nào so sánh được. Vì môn Bát Đoạn Cẩm có công năng hướng dẫn và thúc đẩy huyết và khí luân chuyển đều khắp trong châu thân nên tránh khỏi các bệnh tê thấp vì máu thiếu và cứng động mạch khi tuổi già. Tuổi trẻ tập Bát Đoạn Cẩm thân thể luôn luôn cường kiện, tinh thần luôn luôn linh mẫn, tuổi già thì thần thái uy nghi mà thân thể thì nhẹ nhàng tâm hồn khoáng đạt. Các Thiền Sư xưa, các Đạo Gia cổ lúc nào trông cũng phiêu hối mà người đời thường dùng chữ Tiên Phong Đạo Cốt để chỉ là nhờ tập thường môn học này.

Từ đời xưa cho đến nay có nhiều loại Bát Đoạn Cẩm được lưu truyền trong mọi giới, đến nổi mỗi người làm mỗi khác, số động tác cùng cách phép cũng đều sai biệt và số lần tập cũng khác nhau, đến có khi hơn tám (Bát) đoạn, có khi tới 12 đoạn, 24 đoạn. Và cách tập tùy lúc đứng, ngồi, nằm vv thật là không có phép tắc gì và cũng chẳng ai giải thích gì về sự hiểu biết của mình trong khi truyền bá và rèn luyện các môn Bát Đoạn Cẩm đó. Người có kiến thức chút xíu thì nói là của Tiên gia, vv.. rồi cũng chẳng thể giải thích được gì hơn nên cứ ậm ừ trở tránh khi có người hỏi tới. Đa số các bậc thầy chỉ dạy làm chớ không dạy cho hiểu. Thôi thì hậu sinh chỉ nhắm mắt làm càn làm đại, tưởng tượng thần thoại lờ mờ mà chẳng hiểu mô tê lợi ích ra sao. Thương thay.

Kẻ viết sách xưa nay chẳng hơn gì nhau mấy, thường rắp khuôn sao chép cho có bán, cho có tên mình in trên sách đôi khi vì binh danh, đôi lúc vì có tâm hồn Puôn Pán mà nhắm mắt làm đùa chẳng chịu tham cứu học hỏi trước khi đặt bút thảo chương. Việc nầy không riêng trong lãnh vực nghề võ, mà các ngành văn nghệ khác cũng thế. Phải xét lại hết thảy. Xét luôn cả các văn gia học giả bên Tàu nữa chớ chẳng phải riêng chi xứ mình, các văn gia cỡ lớn của triều đình nhà Thanh cũng làm sách giả bán lấy tiền (thời buổi cực loạn thì lắm sự hư hoại phát sinh, từ thời Thanh sơ đến Văn Thanh, nhân dân Trung Quốc sống thời đại loạn còn hơn nước ta bây giờ) còn thiên hạ thì mặc tình.

Nay học giả đọc sách nầy cần nên hiểu cho chánh lý là trong bầu trời có hai loại Bát Đoạn Cẩm mà thôi. Một của Đạo Gia và một của Phật Gia, có thể gọi là hai ngành Bát Đoạn Cẩm cũng đúng. Môn Bát Đoạn Cẩm của Đạo Gia vì chỗ tự tiện của đạo sĩ và nho sĩ xu thời đã bày lắm thứ, nhiều môn đặt nhiều bài bản lắm hiệu lắm tên nhưng chung quy ý vẫn nằm trong hơi thở, tức chủ trương vận dụng khí lực, gọi văn hoa là Đạo Dẫn Thuật hay Vận Khí Thuật. Bài bản lu bù (nhiều) nhưng người hiểu biết thấy rõ chân tướng, người kém cỏi mờ mịt nên khó thể học hành tới nơi tới chốn.

Bát Đoạn Cẩm Thiếu Lâm không có nhiều bản cho lắm, đó là nhờ Thiền môn có tổ chức quy mô (trong chùa có nhiều ban nghiên cứu viết sách, v..v..) nên lưu truyền được chánh bổn. Nhưng dù thế vẫn thấy được hai loại Bát Đoạn Cẩm. Loại nào cũng đúng tám đoạn, một loại chủ luyện gân xương và một loại chủ luyện khí lực. Mỗi loại có chỗ thái quá và thiếu quá. Để dung hòa cho đặng vẹn toàn, một bản Bát Đoạn Cẩm đầy đủ cả hai phần Luyện Gân Lực và Khí Lực được trình bày trong sách nầy. Nhờ sự sửa đổi (canh tân) nầy mà thiền sư và chúng môn đồ võ lâm, nhân loại được toại nguyện trên đường tu tập. Và bây giờ môn Bát Đoạn Cẩm toàn hảo nầy được truyền bá rộng rãi trong đại chúng làm nổi danh môn phái Thiếu Lâm ra cùng khắp Ngũ Đại Châu.

Nhưng mà thế nào là các thế tập Vận Lực và thế nào là các thế Vận Khí? Điều nầy quí học giả sẽ được thấy và cảm nhận được ngay trong chương nầy, ở phần kế tiếp liền sau đây. Và để thưởng thức trước khi đi vào thực luyện, (giống như ta mở mũi hít hơi thơm của món ngon tưởng tượng cho đã cái rồi sau đó mới gắp đồ ăn đưa vào nhai), soạn giả xin trình là trong Bát Đoạn Cẩm Thiếu Lâm hễ đoạn nào đứng thẳng đầu gối mà tập thì thế đó dùng luyện khí, đoạn nào đứng tấn Kỵ Mã mà tập thì dùng luyện Gân. Có vậy thôi, đơn giản thấy rõ, dễ hiểu thấy rõ. Tuy thế, đoạn luyện khí cũng có vận lực phù trợ chớ chẳng phải tưởng tượng khơi khơi mà được, cũng như khi luyện gân cũng có vận khí trợ lực. Có sự bổ hợp như thế mới mau thành công, mới có sự liên hoàn động tác, chuyển động gân xương, thúc đẩy khí huyết, đả thông kinh mạch tạo dựng một thân thể cường tráng, uy nghi.

Khi hiểu được những điều cần thiết (yếu quyết) nầy rồi thì không còn lo lắng, ngại ngùng lúc bắt tay vào việc luyện tập, cũng như chẳng thể có tập luyện mà chẳng có thành công. Hơn nửa đời soạn giả Cư Sĩ tôi chưa hề một lần làm chuyện gì mà mình chưa thấy hiểu ý nghĩa của sự việc, thì đối với chư học giả, võ gia, quân tử, soạn giả vẫn muốn quí vị thực hành theo con đường đó để sớm thành công. Đó là con đường sự thật, trí tri.

Nay thì chư hiền đã rõ hiểu lý thuyết của Bát Đoạn Cẩm rồi, vậy xin mời nghiên cứu thực hành các động tác co duỗi sau để thân thường được mạnh khỏe, trí thường được thanh thản, hầu tài năng thiên bẩm được đà phát triển tối đa hỗ trợ đời, đi vào lịch sử(Ai cũng đi vào lịch sử khi mà mình đã tự biết mình, ít ra cũng làm nên lịch sử vì mình đã có tích sự trong đời.) Nào, mời chư học giả thực hành cho biết Đạo vị lành mạnh mà từ cổ xưa không một ai được tôn vinh là thánh hiền mà không biết đến.
...

anbinh
10-03-2010, 04:57 PM
Chương II (tt)

A. CÁCH LUYỆN TẬP BÁT ĐOẠN CẨM

Như học giả đã biết là Bát Đoạn Cẩm gồm có tám phép luyện tập, và không nói ai cũng hiểu đều phải tuần tự tập luyện tuần tự từ phép một cho đến khi hết trong một buổi tập, theo đúng phương pháp sẽ được giảng tới trong phần thực hành kế sau.

Nhưng muốn thực hành cho hết tám phép trong một buổi tập thì trước tiên học giả phải thuần thục từ phép một theo phép tuần tự nhi tiến (học từ từ theo thứ tự). Việc nầy không khó, chỉ cần thời gian ngắn là ai cũng thực hành được một cách tự nhiên. Điều cần chú ý khi thực hành là phải quan tâm làm đúng từ động tác một của mỗi Đoạn (mỗi đoạn có nhiều động tác) và làm đủ số lần cần phải lập lại cho mỗi động tác. Khi chấm dứt đoạn thứ nhất thì liền đó luyện tập đến đoạn thứ nhì sau khi buông tay nghỉ thong thả 3 phút đồng hồ. (Nếu đã thuần thì thời gian nghỉ chừng một phút đã đủ) tính ra thong thả mà tập thì người mới mỗi sáng có thể dành khoảng 45 phút để thao luyện và khi đã thuần rồi thời gian luyện tập rút lại còn 20 đến 25 phút là cùng. Số thời giờ ấy rất khiêm nhường so với bất kỳ môn thể thao vận động nào mà sự thành quả thâu đạt được lại tốt đẹp vượt bực hơn tất cả.

Khi mới tập thì chú trọng về hình, nghĩa là sao cho đúng cách theo sách chỉ dẫn từ cách gồng chuyển chân tay, co vào, duỗi ra, hít thở, trợn mắt ….Muốn được như thế thì nên treo tấm kiếng (gương) để nhìn cho thấy chỗ sai mà sửa đổi. Nếu có người cùng tập sửa cho nhau thì càng hay hơn.

Lúc thuần thục chú trọng tới ý, nghĩa là hơi thở được quên đi, động tác xóa bỏ mà chỉ quán tưởng thấy cái dụng ý của mỗi đoạn (ý tứ đó là ý nghĩa của mỗi câu khẩu quyết của mỗi đoạn, xem trong phần thực hành chương nầy.) Bao giờ làm được từ hình thức tới ý thức thì động tác lưu đi mà tâm như quên như nhớ, huyết mạch cuồn cuộn chuyển lưu, khí lực rần rần tụ tán trong mỗi co duỗi chân tay…bài tập trôi mau đến khi chấm dứt thì tự động dừng ấy nhờ Thần.

Học giả tập đến bao giờ được như thế thì thân tâm trống không, cơ thể nhẹ nhàng vui tươi như trẻ, ăn uống ngon lành, ngủ nghê khoái lạc, đến như những công việc hàng ngày cho là rối rắm, mệt nhọc thì nay như đồ chơi và ngày giờ qua mau. Vì biết được thời giờ qua mau nên không phí thì giờ, do đó thành công hơn đời là như vậy đó. Không tập không biết, tập rồi biết ngay, việc nầy người ta ví đường có đi mới biết, chuông có đánh mới kêu. Kẻ lảm biếng thần trí ỉu lờ, lù đù chậm chạp, ngu ngơ việc đời trăm việc cũng tại không người hướng dẫn, nếu biết được phương pháp này mà chuyên cần học luyện thì đời sống đổi khác tức thời, thậm chí đến như tuổi già là cái luật định của tạo háo mà Bát Đoạn Cẩm còn cản được huống hồ.

Về chỗ (vị trí) để luyện tập thì không gì tốt hơn nơi yên tĩnh và thoáng khí, không khí trong sạch bao giờ cũng là thức ăn bổ, là liều thuốc quí cải tạo sinh lực con người. Do đó có thể chọn một khoảng trống sạch sẽ cao ráo trong vườn (nếu ở nhà quê), trong sân, hoặc trong phòng nơi có cửa sổ mở thoáng mát ra hướng khô ráo sạch sẽ (khuông cửa phải lau chùi hết bụi bặm thường xuyên, nếu ở nhà sàn trên sông, trên thuyền, tàu thì đợi nước lớn không khí trong sạch mới tập.) Tốt nhất là tập vào mỗi sáng, tập xong đợi 10-15 phút sau tắm nước lạnh chà xát da bằng khăn bong, xơ dừa…. thì sau đó một ngày đẹp nhất định sẽ đến với chúng ta, vì chung quanh ta ai cũng là người đáng thương, đáng mến, đời sống thật có nhiều ý nghĩa…

Tóm lại, khởi sự tập Bát Đoạn Cẩm phải:


Thuộc và làm đúng hình thức bên ngoài của từng động tác trong mỗi đoạn.

Khi thuộc Hình rồi phải thuần Ý, là cái mà mỗi khẩu quyết ghi rõ.

Lựa chỗ thoáng, sạch mà tập mỗi buổi bình minh, nếu không tập buổi tối sau bữa cơm hơn 3 giờ đồng hồ.

Tập xong 15 phút sau tắm và chà xát da. Uống một ly nước lọc sạch trước khi tập và sau, ly nhỏ thôi.


B. TÁM ĐOẠN CỦA BÁT ĐOẠN CẨM

Bát Đoạn Cẩm gồm có 8 đoạn, mỗi đoạn có một mô thức (hình dáng, thể thức) huấn luyện cơ thể khác nhau. Khác nhau từ cử động cho đến thần ý. Vì lẽ Bát Đoạn Cẩm được chế tạo để luyện tập cho đặng hiệu quả trong việc kiến tạo một thân thể cường tráng từ ngoài (Ngoại tráng) và cả bên trong (Nội tráng). Ngoài ra Bát Đoạn Cẩm còn dung để trị liệu những bệnh trạng yếu nhược hư hao thường thấy trong mình của người đời. Ví như ai thường ngày hay uể oải thì tập Bát Đoạn Cẩm sẽ khỏi ngay; ăn uống khó tiêu hóa tập sẽ hết ngay, hay mệt tập khỏe ngay. Người tập võ công bi nội thương cũng được trị lành, v..v… nói nhiều không hết.

Tổng quát là Bát Đoạn Cẩm là Tám Phép Thần dung tập luyện cho cường kiện thể xác minh mẫn tâm thần và ngừa trị, hoặc trị mọi bệnh chứng thương, lao, cùng bồi bổ các cơ phận quan yếu giúp người hồi phục sinh lực trong đời sống lao động tiêu hao hàng ngày…

Đây là phép thần, nhưng có tập luyện đúng thời mới Thần còn như đọc chơi cho biết mà không tập thì Thần cũng chẳng giúp được mình, giống việc hàng ngày cầu xin cúng kiến cho mình được phúc, lộc, thọ mà không làm việc gì bó gối ngồi chờ hoặc manh tâm hung ác, tà gian thì lộc, phúc nào đâu tới với mà thọ cũng giảm dần mau chóng theo ngày tháng vì cái tâm u ám nó hạ mình. Học giả biết như thế thì tưởng chẳng cần luận bàn chi cho dài dòng tốn giấy, mà vứt bỏ hết mọi lý sự bắt tay luyện tập các động tác sau thì trong mấy tháng đã có sự khởi sắc trong đời sống hàng ngày rồi. Tức là vui rồi, vui rồi cần gì nói nhiều nữa, mà có nói nhiều cũng lại càng thêm vui. Ấy, thành công đang chờ quý vị đây. Nào chúng ta hãy tiến tới…

Nhưng muốn tiến tới hãy học cho thuộc lòng Tám Câu “Thần chú” sau để làm lộ phí, hành trang rồi hãy lên đường.


KHẨU QUYẾT BÁT ĐOẠN CẨM:


Đệ Nhất Đoạn Cẩm: Lưỡng Thủ Kình Thiên Lý Tam Tiêu (Hai tay chống trời tưởng “tới” Tam Tiêu)


Đệ Nhị Đoạn Cẩm: Tả Hữu Khai Cung Tự Xạ Điêu (Trái phải dương cung “như” bắn chim điêu)


Đệ Tam Đoạn Cẩm: Điều Lý Tỳ Vị Đơn Cử Thủ (Điều hòa Tỵ vị “một” tay đẩy lên)


Đệ Tứ Đoạn Cẩm: Ngũ Lao Thất Thương Vọng Hậu Tiều (Năm Lao Ngũ Thương liếc nhìn “phía”sau)


Đệ Ngũ Đoạn Cẩm: Dao Đầu Bài Vĩ Khứ Tâm Hỏa (Lắc đầu vẫy đuôi [1] dứt “bỏ” tính nóng nảy)


Đệ Lục Đoạn Cẩm: Bối Hậu Thất Điên Bách Bệnh Tiêu (Sờ xương cùn 7 lần trăm bệnh tiêu)


Đệ Thất Đoạn Cẩm: Toàn Quyền Nộ Mục Tăng Khí Lực (Nắm chặt quyền, mắt giận [2] , tăng khí lực)


Đệ Bát Đoạn Cẩm: Lưỡng Thủ Phan Túc Cố Thận Eo (Hai tay kéo hai chân bền thận eo)


Chú ý: Chữ nghiêng phiên nghĩa Khẩu quyết Bát Đoạn Cẩm chưa sát nghĩa lắm cần đọc rõ chi tiết mỗi đoạn mới biết được đầy đủ.

______________________________________

[1] Vẫy đuôi: ý nói uốn éo mông đít như con rắn vẫy đuôi

[2] Mất giận: dịch chữ Nộ mục, ở đây nên hiểu là tập trúng ý lực nơi mắt như giận dữ và nắm quyền đấm ra làm tăng khí lực…

anbinh
10-05-2010, 11:03 PM
Chương Thứ Nhì

Tám Đoạn BÁT ĐOẠN CẨM


ĐỆ NHẤT ĐOẠN CẨM

THẾ DỰ BỊ: Đứng thẳng, hai tay buông xuôi hai bên đùi, lòng bàn tay úp vào hai bên đùi, hai gót chân khí nhau, hai mũi bàn chân mở ra hình chữ V. Mắt nhìn thẳng bằng ngang, hơi thở điều hòa tự nhiên. (Hình 1)

1. Lưỡng Thủ Kình Thiên Lý Tam Tiêu (Hai tay chống trời tưởng tam tiêu)

Phép Luyện: Khi tập đông người phải sắp hàng ngang và dọc thẳng nhau cùng khoảng cách giữa mỗi người với nhau bằng hai tay giăng thẳng chạm nhau là được. Nếu đơn luyện (luyện một mình) thì không cần chú trọng đến sắp hàng. Đoạn nầy có tám động tác, tập luyện tuần tự như sau:

Động tác 1: Hai bàn tay từ từ xoay mở lòng bàn tay ra ngoài sang hai hướng trái phải. Đoạn từ từ đưa ngửa lên, hai cánh tay ngang bằng rồi tảng lên trên đỉnh đầu, các ngón đan vào nhau (Hình 2 và 3).

Động tác 2: Hai cổ tay vận lực (gồng) vừa xoay ngửa lòng bàn tay lên trời, độ cao không thay đổi (Hình 4). Kế đẩy cao lên trời chân nhón gót.

YẾU LÝ: Động tác 1, từ từ hít hơi vào thì đồng thời xoay cổ tay mở bàn tay ra rồi hướng lên trời mà đưa lên thì hít hơi dài theo cho đến khi hai bàn tay đan vào nhau mới ngưng.

Kế theo là động tác 2, gồng cổ tay xoay ngửa lòng hai bàn tay lên trời, hai cánh tay thẳng, nhón gót thì giữ kín hơi trong phổi không hít thêm cũng không thở bớt ra. Quan trọng là chỗ vận lực đẩy chưởng lên gọi là Lưỡng Thủ Kình Thiên, thì phải tưởng tượng như đang chống đỡ một bầu trời đang sập xuống đầu mình, do đó phải vận toàn lực mà đẫy lên không thể đẩy hời hợt được. Lúc đẩy lên mắt không nhìn theo tay mà Thần thì quán tưởng tới Tam Tiêu từ trên xuống dưới thông suốt. (Xem tiếp Yếu Lý động tác kế).


http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC01-1.jpg

Động tác 3: Buông lỏng hai bàn tay rồi từ từ hạ xuống đỉnh đầu, lòng bàn tay vẫn để ngửa. Thở ra bằng mũi hoặc thổi nhẹ hơi ra vừa mũi vừa miệng. Hai chân đồng thời cũng hạ xuống đứng bình thường. Chân tay nhịp nhàng. (Hình 5) Kế, hít hơi vào hai bàn tay vận lực đẩy lên, hai gót chân cũng nhón lên theo. Khi đẩy thẳng tay thì phổi cũng đầy hơi, dĩ nhiên hít vào bằng mũi, miệng ngậm kín. (Hình 6)…


http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC02-1.jpg

YẾU LÝ: Khi nhón gót đẩy song chưởng lên tận cùng cao thì dừng lại một vài giây đồng hồ trước khi xả lực (buông lỏng) để thu tay trở xuống trên đỉnh đầu. Trong mấy giây đồng hồ ngưng lại trên cực điểm cao thì tâm quán tưởng đả thông hai Kinh Tam Tiêu, tức thông suốt từ đầu ngón tay giữa đến đầu chót đuôi lông mày. Kinh nầy chạy bên ngoài cánh tay, qua vai lên trái tai rồi bọc ra trước vành tai lên đuôi mắt, tổng cộng là 23 huyệt. Hai kinh nầy có tác dụng hô hấp, tiêu hóa và các bộ phận sinh dục cũng như bài tiết. Khi hai kinh Tam Tiêu nầy đả thông thời không thể mắc bệnh thuộc về Ba Tùng: và khi có bệnh về Ba Tùng thì phải luyện tập đoạn này để điều trị.

Vì kinh Tam Tiêu nằm ở bên ngoài cánh tay nên động tác lật ngược chưởng tâm bàn tay lên làm căng thẳng toàn bộ gân mạch phần ngoài cánh tay làm luồng khí lực được lưu thông dể dàng. Để phụ trợ và hiểu biết rõ về bản thể mình hầu dần dà nghe được mọi biến động của châu thân trong khi đẩy chưởng phải quán tưởng khí lực chạy mạnh từ đầu ngón tay giữa đến đuôi mày. Đó là ý nghĩa của câu khẩu quyết… Lý Tam Tiêu. Ngoài ra chân nhón gót lên sức nặng tụ trên các đầu ngón chân, nhất là ngón cái làm căng thẳng vùng sau đùi chân phía bên trong và phần bụng trước ển tới thúc đẩy kinh Tỳ Tạng tức Túc Thái Âm Kỳ Kinh, gồm 21 huyện được đả thông. Ngoài ra khi hạ gót chân xuống mũi bàn chân uốn lên thì phần toàn bộ đùi trước từ dưới lên trên căng cứng giúp đả thông kinh Dạ dày tức Túc Dương Kinh Vị, gồm 45 huyệt… Do đó động tác của toàn đoạn làm lợi ích cho cả Ba Tùng. Ở đây hạn hẹp giải thích không được rõ, chỉ nói đại cương công dụng của động tác và tại sao nó làm được lợi ích như vậy thôi. Ngoài ra muốn tham cứu do soạn giả biên soạn thì mới hiểu đến chi tiết. Điều tưởng nên nhắc cho rõ là từ xưa tới nay chẳng ai biết tập Bát Đoạn Cẩm cho lợi ích đến chỗ tận cùng của nó, cũng như chẳng ai giải thích rõ được, dù bên Tàu hay bên Nam ta. Nay soạn giả nói rõ ra cho học giả cùng hiểu, ấy là người đầu tiên khám phá được ẩn ý của cổ nhân mấy ngàn năm, sở dĩ soạn giả khám phá được là nhờ có học qua Y Lý và đạt thành Nội Công thượng thừa đến gọi là giác ngộ. Nhờ đắc đạo mới dám nói dạy Nội Công cấp tốc cho người cao học võ thuật cùng dạy thuật Điểm Huyệt mà người đời tương truyền chớ chẳng thấy ai làm được. Soạn giả sẽ viết sách dạy điểm huyệt theo kinh nghiệm bản thân xuất bản nay mai ai học cũng thấy kết quả….

Động tác 4 – 5 – 6: Đẩy chưởng lên và hạ xuống 3 lần như động tác 3 vừa học trên. Thu tay xuống đầu thì buông lỏng, gồng thì đẩy lên. Tay lỏng thì thở ra, hít vào thì đẩy lên. Hạ xuống thì cong các ngón chân lên. (Xem hình 7-8, Hình 7 nhìn từ một bên).

YẾU LÝ: Động tác thực hiện đều đều không mau không chậm, hơi thở cũng tùy theo vận chuyển lên xuống mà thở hít. Quán tưởng lên xuống như dòng nước chảy. Tập mà nghe rêm tay phần cánh tay ngoài thì đúng, không rêm nên coi lại là vì đẩy chưa ngay đỉnh đầu. Trẹch ra trước hoặc dịch về sau đều không thông được các kinh. Phần chân nghe mỏi phần trước và phía sau mé trên lên tới bụng là đúng. Nếu không nghe hơi hám gì là tại nhón gót chưa tới chỗ cao nhất và chưa cong ngón chân cái, trỏ lên khi hạ gót chân. Ban đầu tập thấy rêm mỏi nhưng sau hơn tuần trở lên thì mỗi lần đẩy tay lên xuống vài lần thấy rần rần trong chân tay ấy là khí được điều động đả thông như nước chảy trong ống. Đó là điềm tốt.

Nói thêm cho rõ, đan ngón tay hoặc bàn tay nầy đè lên mu bàn tay kia đều đúng cả nhưng đan ngón tay thì kết quả hơn, dễ thúc đẩy kinh mạch hơn. Hiểu rõ thì khỏi dị nghị.

Động tác 7: Làm đến động tác 7, đẩy chưởng cao chân chưa hạ xuống thì mở rời song chưởng ra rồi đưa xuống hai bên từ từ, lòng bàn tay úp xuống hướng mặt đất, hai cánh tay thẳng, bằng ngang song song mặt đất, trong khi chân vẫn còn nhón gót. Đưa tay xuống từ từ không làm mau (Hình 8).

Động tác 8: Từ từ hạ gót chân xuống cong ngón các ngón chân lên, hai tay đưa xuống úp hai bên đùi như động tác chuẩn bị. Thở hít tự nhiên. (Hình 9) Kế duỗi thẳng các ngón chân xuống đứng bình thường.

YẾU LÝ: Tập xong hết động tác thứ 8 thì trở lại tập động tác 1-2-3… cho đến 8 và tập làm 4 lần cả thẩy trước khi qua đoạn thứ hai. Nghĩa là đoạn thứ nhất tập từ đầu đến cuối làm 4 lần.


Lưu ý: Nếu hai bàn tay đan vào nhau như cài răng lược thì mỗi khi thu chưởng về sát đỉnh đầu phải xoay cổ tay cho lòng bàn tay úp xuống đỉnh đầu; nếu bàn tay úp lên nhau thì khỏi xoay.

Soạn giả nhắc lại lần nữa, đoạn thứ nhất nầy chủ luyện đả thông hai kinh Tam Tiêu nằm ở phía ngoài hai cánh tay từ đầu ngón tay giữa cho đến đuôi chân mày. Làm tăng bổ toàn bộ cho Ba Tùng trong châu thân. Đồng thời nhón chân và cong ngón chân lên làm đả thông hai kinh Tỳ Tạng và hai kinh Dạ Dày giúp ăn ngon ngủ được và trí tuệ tăng tiến. Theo Giáo Sư Soulié de Morant thì kinh Tỳ Tạng giúp đứa nhỏ (thanh niên) mau lớn và phát triển khả năng toán học. Theo soạn giả kinh nghiệm thì luyện đả thông một lượt ba kinh Tam Tiêu, kinh tỳ Tạng và kinh Dạ Dày làm thân thể rất mau cường tráng, trước nhất điều chỉnh mọi suy yếu về sinh lý và sinh dục, sau đến bồi bổ hiệu năng làm tăng tiến sức mạnh của Ba Tùng và hệ thần kinh. Do đó sau 30 ngày chuyên tập nội đoạn này cho đúng cách thì thân đã đổi khác, từ trầm trệ hóa ra nhẹ nhàng. Một người lười biếng sẽ hóa ra siêng năng, thích làm việc… việc gì cũng thích. Soạn giả bảo đảm lời dạy nầy của mình.

anbinh
10-10-2010, 03:40 PM
ĐỆ NHỊ ĐOẠN CẨM



CHUẨN BỊ: Khi tập xong Đệ Nhất Đoạn Cẩm thì thu tay trở về thế dự bị như ban đầu, nghỉ một phút rồi tiếp tục tập tới đoạn thứ hai. Người yếu nên nghỉ 2-3 phút (Hình 10).

2. Tả Hữu Khai Cung Tự Xạ Điêu (Trái phải dương cung bắn chim điêu)

Khác hơn đoạn thứ nhất chủ luyện khí đả thông kinh mạch, đây doạn thứ nhì nầy chủ luyện lực gân. Luyện gân thì tấn Kỵ Mã. Và đoạn nầy được tập luyện với tấn Kỵ mã và Cung Bộ. Đoạn nhì Bát Đoạn Cẩm chủ luyện gân lực cho đôi tay, thích ứng cho mọi vận động võ thuật cũng như lao động thường thức hàng ngày của con người.



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC04.jpg


Động tác 1: Tư thế chuẩn bị, hai chân nhảy ra hai bên một bước rộng hơn vai, hai bàn chân mở song song nhau, hai tay đưa thẳng bằng ngang phải trái, kế co tay vào ngang trước ngực, bàn tay trái dùng sức (vận lực) mở các ngón ra, các ngón bấu cong cong vào như bấu lấy quả cầu bằng sắt vậy (vừa nặng vừa trơn láng) lòng bàn tay hướng về hướng bên phải, và hổ khẩu hướng lên trời. Tay phải nắm lại thành quyền nhưng ngón trỏ mở ngay trỏ thẳng đứng lên trong lúc ngón cái kiềm (đè) lên ngón giữa. Mắt nhìn ngón trỏ tay phải theo đường bằng ngang về hướng phải. (Hình 11)

Động tác 2: Đầu xoay nhìn về hướng phải, chuyển gân đẩy quyền phải. CHỈ ngón trỏ về hướng phải, chưởng trái nắm lại thành quyền đồng thời cũng chuyển gân kéo bằng ngang về hướng trái, lòng nắm tay úp vào trước ngực, tấn bộ cùng lúc rùn thấp xuống chuyển thành chảo mã. (Hình 12)

YẾU LÝ: Động tác 1, tay phải như cầm cây cung, chưởng trái như cầm dây cung mà tra tên vào, vận sức chuẩn bị dương cung nên hơi được hít đầy phổi. Kế động tác 2, rùn bộ là dương cung, tưởng tượng dương cây cung bằng sắt nên phải vận lực nơi tay và chân rùn mình bám đất. Nếu quen dần với lối vận lực lên xuống thì có thể tưởng tượng là mình đang cỡi ngựa trên đường gập ghềnh và dương cung

Động tác 3: Nới lỏng nắm tay phải rồi mở ra thành chưởng, chưởng tâm chiếu về hướng phải, kế thả lỏng hai tay, thở ra đồng lúc nhỏm người dậy hai tay thu về thành động tác 1. (Hình 13 và 11)

Động tác 4: Làm lại hai (2) lần dương cung bắn sang hướng phải theo kiểu trồi lên sụp xuống tức động tác 1-2-3.

Động tác 5: . Dương cung bắn sang hướng trái, chưởng phải vận lực bấu vào trước ngực bao lấy đầu quyền trái, trong lúc ngón trỏ quyền nầy chỉ thẳng đứng lên. Động tác và ý nghĩa giống hệt động tác 1 nhưng chỉ đổi tay, mắt nhìn theo ngón trỏ trái về hướng trái. (Hình 14)



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC05.jpg


Động tác 6: Vận lực dương cung ra bắn về bên trái, hạ thấp tấn bộ, buông lên, thu tay, nhỏm dậy. (Hình 15-16) Động tác nầy cũng làm ba lần như bên hướng phải. Tức đứng nhấp nhỏm bắn cung mỗi bên ba lần



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC06.jpg


YẾU LÝ: Từ động tác 1 đến động tác 6 thật ra là thực hiện lặp lại của động tác 1-2-3 và đổi bên. Ý nghĩa của nó là bắn cung theo lối nhấp nhỏm gập ghềnh như đang khi cỡi ngựa trên đường gập ghềnh mà phi nhanh nên phải trồi lên sụt xuống. Do đó phần chân (mã bộ) thì linh động nhịp nhàng, mà phần tay thì vững vàng chắc chắn, lực được vận đầy, thân eo thẳng tắp. Có được như thế thì mục tiêu mới chuẩn đích.

Điều quan trọng phải làm trong ba động tác bắn cung nầy là lắp tên nhỏm dậy, bắn thì xuống tấn. Bàn tay nắm cung, ngón cái đè mạnh trên ngón giữa, ngón cái đưa cao, cánh tay thẳng, tận lực đẩy tới. Bàn tay cầm dây cung nắm chặt tận lực kéo về sau bên đối nghịch cho thẳng căng ngực. Sức mạnh được vận dụng nơi nắm tay vào chỗ eo lại. Do đó khi tập động tác nầy thấy rêm nhức phần trên cổ tay nắm cây cung và bắp thịt bắp tay trên tay nầy, và tay kéo dây thì chỉ mỏi ở bắp tay trên mà thôi. Làm đều hai tay thì mỏi đều. Nhớ phải gồng.

Động tác 7: Làm xong động tác bắn bên trái thì xả lực, kế xoay mặt về hướng phải tra tên vào cung, xuống tấn bộ và bắn về bên phải ba lần mà chân không động (bất động). Động tác làm chậm vận lực đúng mức, bàn tay nắm và duỗi ngón trỏ cực lực. Kéo dây cung với tất cả sức mạnh thân mình. (Hình 17)

Động tác 8: Bắn sang trái trong thế bất động ba lần, giống như bắn bên phải trên động tác 7. (Hình 18) Xong xả lực nhảy khép hai bàn chân vào sát nhau, tay buông tự nhiên hai bên đùi, nghỉ một phút để bắt đầu làm đến đoạn thứ ba.



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC06b.jpg



YẾU LÝ: Toàn đoạn gồm hai thế bắn cung, bắn theo lối nhấp nhỏm và bắn trong tư thế đứng vững. Thế bắn nhấp nhỏm chú trọng nhịp nhàng bỏ chân, hễ trồi lên thì nạp tên, thở ra xả lực, xuống bộ thì đã đầy hơi, dương cung, nhả tên. Quan trọng ở chỗ đẩy cung và kéo tên (kéo dây cung), nắm tay đẩy cung lòng nắm tay ngửa tới hướng hẳn, ngón trỏ chỉ thẳng đứng, ngón cái kẹp chặt ngón giữa tức giữ cho nắm tay được cứng, và cánh tay thì thẳng. Tay kéo dây cung từ chưởng bấu từ từ nắm chặt lại như móng con chim ưng rồi ngón cái kiềm trên hai lóng thứ nhất của ngón trỏ và giữa, cánh tay thì kéo cực lực ngang về hướng đối nghịch. Lồng ngực ển tới trước. Hai tay đồng vận lực đẩy tới và kéo ra một lúc với động tác xuống tấn. Giữ bất động trong 6 giây đồng hồ, xong mới xả lực trồi dậy thu tay về vị thế lắp tên. Lắp tên và bắn theo nhịp độ đều và chậm. Động tác bắn bất động chỉ khác là không nhấp nhỏm. Hơi thở thì, lúc xả lực thì thở ra, hít đầy hơi rồi thì vận lực (gồng) và khi vận lực thì khí đầy trong phổi ngưng thở.

Điều nên nhớ là phải kiểm điểm coi hình thức mình làm có giống với sách không, kế đến ý thức có được đầy đủ hay còn phân tâm tạp niệm (nghĩ bậy bạ không chú ý vận gân). Kết quả của đoạn nầy làm mạnh hai cánh tay, thông hoạt và cứng cáp đôi chân. Làm thông kinh Ruột Già gồm 20 huyệt khởi đầu từ đầu ngón trỏ chạy theo phần trên cánh tay cho tới cánh mũi. Trị được bệnh táo bón, tê bại, phong thấp nhức gân khớp xương, nhất là đau gân tay, bán thân bất toại.

anbinh
10-16-2010, 09:47 PM
ĐỆ TAM ĐOẠN CẨM


3. ĐIỀU LÝ TỲ VỊ ĐƠN CỬ THỦ (Điều hòa Tỳ Vị một tay đẩy lên)



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC07.jpg


CHUẨN BỊ: Đứng thẳng, hai tay buông xuôi hai bên đùi giống như thế chuẩn bị hai đoạn trước… mắt nhìn thẳng tới trước, hơi thở điều hỏa. (Hình 19)

Động tác 1: Tay phải từ từ đưa (đở) lên thẳng cánh theo chiều bên phải, đến khi tay cao ngang vai thì các ngón của bàn tay từ từ ển (cong) lên bằng cách cong nơi cổ ta, trong khi cánh tay được đưa lên từ từ không dừng lại. Khi cánh tay thẳng đứng với thân mình thì bàn tay đã hoàn toàn ngửa lòng lên trời, mũi bàn tay chỉ về hướng bên trái. Các phần khác không lay động. (Hình 20)



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC08.jpg



Động tác 2: Cánh tay phải từ từ co chỏ hạ thấp lưng bàn may (mu) xuống sát đỉnh đầu, chỏ ngang hướng phải, lòng bàn tay vẫn chiếu thẳng lên trời. Trong khi bàn tay phải hạ xuống đỉnh đầu thì bàn tay trái nắm lại thành quyền cũng đồng lúc co chỏ thu quyền lên cao ngang hông. Hơi hít đều, giữ yên trong phổi (như hình 25 nhưng đổi tay). Kế nắm tay trái mở ra thành chưởng. (Hình 21)

YẾU LÝ: Động tác thứ nhất đưa tay lên mà thân không động, vai để mềm mà cổ tay phải vận động, theo tay đưa lên mũi hít đầy hơi. Khi tay tới đỉnh đầu nghe rêm phần gân hội giữa mu bàn tay và bắp thịt của cánh tay sau thì đúng, nhược bằng chẳng thấy rêm đau thì sai vì cánh tay đưa lên đã trệch đi tới trước hoặc sau không ngay hàng với vai. Đồng thời với động tác đưa tay phải thì chân phải cũng từ từ lún (trì) xuống đất, khi mu bàn tay và bắp tay nghe rêm thì bên hông phải cho đến chân (phần trước của chân) cũng nghe rêm rêm. Tập lâu mỗi lần đẩy tay lên nghe mát lạnh từ một bên hông tới đùi và chân trước, ấy là khí lực lưu thông. Co tay trái lên là hỗ trợ sự căng thẳng của hông phải tạo điều kiện cho khí lực lưu thông trong kinh Dạ Dày cùng kinh Tỳ Tạng. Đây là cách điều hòa khí lực hữu hiệu nhất không có bậc bô lão nào cùng võ gia nào tham luyện Bát Đoạn Cẩm mà không hiểu.

Động tác 3-4… Tiếp theo động tác trước. Bàn tay phải xoay lòng bàn tay úp xuống đỉnh đầu (gồng cứng mà xoay), kế xoay trở lên rồi đẩy chưởng thẳng lên đỉnh đầu, tay trái đẩy xuống và nắm lại thành quyền, hít hơi vào (thở ra ở động tác 2). Đoạn hạ chưởng xuống đỉnh đầu rồi lại đẩy lên. Hạ xuống xong thì thở ra, kế hít hơi vào thì đẩy chưởng lên…. Tức thực hiện 2 lần đẩy lên hạ xuống. (Hình 22). Nói rõ hơn từ động tác 1 tới động tác 4 làm cả thảy 3 lần đẩy chưởng lên và 3 lần hạ chưởng xuống, tức 3 lần điều lý kinh Tỳ Vị bên phải. Trong 3 động tác nầy có 3 lên hít vào và thở ra.

Động tác 5:…. Tiếp theo hình 22. Chưởng phải hạ xuống (thẳng tay) bên đùi đồng thời chưởng trái (thẳng tay) đưa lên rồi lật cổ tay cho chưởng tâm ngửa lên trời ngay giữa đỉnh đầu như Hình 23.

YẾU LÝ: Động tác 3-4 là động tác chót của 3 lần vận chuyển bàn tay phải để điều hòa kinh Tỳ Vị bên phải.

Động tác 5 là động tác giao hoán (thay đổi) từ thế chưởng đẩy lên tay phải thay đổi bởi tay trái, để bắt đầu sau đó tập đả thông hai kinh bên trái. Điều nên nhớ ở đây là hai chữ Giao Hoán, tức thay nhau, vậy hễ tay nầy xuống thì tay kia lên, tay nầy nhích động xuống bao nhiêu thì tay nọ nhích động lên bấy nhiêu. Tay phải xuống úp dần xuống rồi vào đùi, ngược lại tay trái từ úp bên đùi trái sau khi lên ngang bằng vai thì ngửa dần cho đến đỉnh đầu thì ngửa thẳng lên trời. Tay trái lên thì chân trái lún xuống. Mũi cũng hít vào từ từ cho đến khi tay đến đỉnh đầu thì phổi đầy hơi.

Ở động tác giao hoán nầy coi như chưa hề vận động nguồn khí lực nào, chỉ đưa tay suông cho có hình thức nhịp nhàng mà thôi. Dù vậy khi đưa lên luồng khí lực cũng tự nhiên lưu thông vì cánh tay xoay, hông trái thẳng băng và chân trái lún xuống, cử động như thế làm hai kinh Tỳ Vị bị điều động, luồng khí lực tự nhiên có đủ điều kiện lưu thông. Nếu thêm vào đó một chuyển động của tay, chưởng và ý tưởng tập trung là lực khí cuồn cuộn tuôn tràn trong hai kinh Dạ Dày và Lá Lách nầy.



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC09.jpg


Động tác 6:… Bàn tay phải nắm lại thành quyền, chỏ co lên, thở nhẹ ra đồng thời chưởng trái hạ mu bàn tay xuống gần đỉnh đầu, gần tới đỉnh đầu thì hít hơi vào đầy phổi kế chuyển lực vào cổ tay trái, bàn tay phải cũng co lên cực lực ngang hông. Kế nắm tay phải mở ra thành chưởng như trên động tác 2. (Hình 24-25)

Động tác 7-8: Thực hiện lại hai chu kỳ đẩy chưởng lên và hạ xuống đỉnh đầu, lún chân, v…v… Tất cả đều giống hệt các động tác 1 đến 4 nhưng chỉ khác tay mà thôi.

Sau hết là giao hoán tay phải lên rồi thực hiện lại 3 lần đẩy chưởng tay phải đoạn giao hoán tay trái lên đẩy 3 lần chưởng trái. Tức là toàn đoạn ba nầy cũng tập cả thảy 12 lần. Các đoạn khác cũng không khác.

YẾU LÝ: Như đã giảng trước, đoạn ba nầy dung luyện khí, đả thông hai kinh Dạ Dày và kinh Lá Lách. Sự vận động có chỗ giống với Đoạn Thứ Nhất nhưng có chỗ khác là chân ở động tác của đoạn thứ nhất có nhón lên hạ xuống, ở đoạn ba chân không nhón lên, mà chỉ có trầm lún một bên. Về tay thì ở đoạn 3 khi hạ sát đầu có gồng chuyển.

Có thể nói đoạn thứ nhất là một thế tập tổng quát có khả năng huy động nhiều kinh mạch trong một chuyển động toàn diện cơ thể. Còn đoạn ba chỉ chú trọng đến hai kinh Tỳ và Vị kinh.

Được biết ông bà xưa chủ trương ăn được ngủ được là tiên nên đã chú trọng rất nhiều tới những cơ quan thuộc Ba Tùng gọi chung là Ngũ Tạng Lục Phủ, gọi theo tiếng đời mới bây giờ là Bộ Máy Sinh Lý, do đó mới nghĩ ra phương pháp thần diệu vận động để kích thích gây nhiều lợi ích cho các cơ quan, vừa tu bổ vừa kiến tạo lại, vừa phát triển năng lực. Vì vậy khi tập Bát Đoạn Cẩm người ta sẽ ăn ngon ngủ được, mau đói, đái ỉa (tiểu tiện) rất thông suốt, sinh lý mạnh cho tuổi già, trẻ con mau lớn học giỏi, nhất là giỏi toán học. Sự kiểm chứng đã có các bác học Tây Phương đảm trách xác nhận. Tiếc thay phương pháp lợi ích cao đẳng như thế mà mấy trăm năm nay ông bà mình cứ bí truyền thành ra con cháu mới thua sút người ta. Từ đây về sau thì chuyện đời đã khác rồi, vận hội mới đã tới.

anbinh
10-24-2010, 06:08 PM
ĐỆ TỨ ĐOẠN CẨM



CHUẨN BỊ: Như mọi đoạn trong Bát Đoạn Cẩm, hễ muốn bắt đầu luyện đoạn nào đều phải đứng thế chuẩn bị trước rồi sau đó mới khởi luyện. Và khi chấm dứt cả đoạn đều cũng phải trở về thế chuẩn bị ban đầu rồi nghỉ ngơi trong vài ba phút trước khi tập đoạn kế tiếp. Do đó dù trong một đoạn nào không nhắc tới trở về chuẩn bị khi hết đoạn thì học giả cũng phải hiểu là phải rút chân trở về thế chuẩn bị. Mọi thế chuẩn bị đều giống nhau là đứng thẳng hai chân khít nhau, hai bàn tay úp vào hai bên đùi, mắt nhìn thẳng và hơi thở điều hòa. (Hình 26)


4. Ngũ Lao Thất Thương Vọng Hậu Tiền (Năm Lao, bảy Thương -- liếc nhìn phía sau)

Đoạn nầy chủ luyện Não Tủy, diệt trừ năm bệnh Lao và bảy bệnh Thương. Hệ Thần Kinh Não Tủy bị mệt thì mọi cơ quan trong châu thân đều ảnh hưởng trầm trọng. Mọi sự mệt mỏi giả tạo có thể xảy ra do óc đánh lừa cơ thể, từ đó sanh các chứng Lao Thương, và cũng do nhiều vấn đề suy nghĩ phúc tạp trong đời sống tranh đấu hàng ngày người ta phải đối phó nên gây nên Lao Thương nhẹ hoặc nặng. Theo tiếng đời mới của Y Học Thái Tây gọi là suy nhược thần kinh hệ. Để lấy lại quân bình thần kinh và khinh khoái, linh hoạt đầu óc, phép tập số bốn nầy có giá trị đáng được ca ngợi. Học giả thử ngay sẽ thấy là ngoài sức tưởng tượng của mình, một niềm vui đến ngay sau vài cử động. Một món thần dược quá rẻ tiền. Ngoài thành tích trị lao thương, nó còn phát triển nghị lực và sức mạnh của cổ, gân, xương cổ, tiểu não, giúp võ gia sức lực đủ chịu đựng các đòn công dũng mãnh của đối phương.



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC10.jpg


Động tác 1: Song chưởng đưa xéo nhau lên trước mũi (không chạm mũi), bàn tay phải trong, bàn tay trái ngoài sát mu bàn tay phải. Tay đưa lên từ từ và từ từ hít hơi đầy phổi khi tay tới vị trí của động tác. (Hình 27)


YẾU LÝ: Đoạn Bốn nầy vận động toàn bộ kinh mạch trên hai cánh tay như Kinh Phổi, Kinh Ruột Già, Kinh Tim, Kinh Ruột Non, Kinh Màng Bao Tim, Kinh Tam Tiêu, vì hai tay giang thẳng phát động lực lượng, cộng động tác cong các ngón tay làm thúc bách khí lực trong kinh phải di chuyển, cái ngẹo đầu càng tăng thêm sự thúc bách khí lực mãnh liệt… Ngoài ra xoay cổ còn gây kích thích hệ thần kinh vốn từ đầu chạy tỏa xuống châu thân mà cổ là chỗ tụ hội duy nhất có thể vận dụng dễ dàng. Đây là phương pháp thể dục của ông bà mình nên phải giảng giải theo kinh mạch là sở học riêng biệt của ông bà, thành ra nhiều học giả Tây học còn nhỏ tuổi chưa nghiên cứu có hơi khó hiểu, kỳ dư tại Tây phương hay các bác sĩ có tuổi tại quê nhà (VN) thì chẳng có gì xa lạ. Vụ nầy chẳng qua như đời nay học Anh Pháp văn, xưa học Hán văn, ngôn ngữ nào cũng có chỗ hay nếu ta am hiểu nó. Vì sợ thất bổn điều phát kiến tu chứng nên soạn giả ghi vào đây những điều rườm rà, đáng ra chỉ ghi suông các động tác cũng đủ. Nhưng chắc nhiều học giả cũng đồng ý thà có hơi rườm rà còn hơn thất bổn làm mất di tích văn minh học vần, kho tàng kiến thức của Ông Gà mình. Cây có cội, nước có nguồn, người ta có tổ tiên Ông Bà. Học kiến thức của Ông Bà phải nhớ Ông Bà. Ông Bà mình là đất nước mình, đất nước mình tức nền văn minh Triết Học Đông Phương, một mặt trời vĩ đại mà Tây phương ngày nay đã đổ xô đến nghiên cứu học hỏi. (Triết Học Đông Phương gồm Y, Võ, Đạo, tức là Y học cứu dân, Võ học mạnh dân và giữ nước, Đạo để dìu dắt dân theo khuôn phép xã hội, an lạc khi sống và bình thản khi già chết.) Trừ các bậc đại kiến thức, dân mình có hiểu. Hiểu để tự biết mình.


Động tác 2:… Chân phải chậm chậm bỏ sang bên phải khoảng cách giữa hai bàn chân bằng vai, đồng thời vận lực (gồng) hai tay đẩy sang hai bên trái phải, vừa đẩy vừa mở bàn tay ra cho đến khi thẳng cánh tay thì song chưởng (hai lòng bàn tay) chiếu thẳng về hai hướng trái-phải, mũi bàn tay dựng đứng, các ngón khít nhau kể cả ngón cái. Mắt nhìn theo bàn tay phải. Hít thêm khí trời nén xuống bụng dưới, kế xoay bàn tay về sau cho cạnh bàn tay song song với mặt đất (hai tay đều xoay, cổ tay xoay), hông đồng thời xoay theo về bên phải. (Hình 28)


YẾU LÝ: Chân trái bước ra chậm chạp, tay vận lực đẩy ra cũng chậm chạp cho đến khi thẳng tay thì hông xoay theo, mắt nhìn theo tay phải từ đầu, đến khi hông xoay cực lực thì bàn tay mới vặn thêm về sau, hít thêm khí.


Động tác 3:… Xoay hông trởi về vị trí bình thường, hai bàn tay cũng xoay về vị trí thẳng đứng, kế thở hơi ra từ từ, chân phải cũng từ từ đưa về sát chân trái đồng thời hai tay xả lực buông xuôi xuống hai bên đùi, nhưng mắt vẫn cứ nhìn về hướng phải. (Hình 29)

Động tác 4:… Hít hơi vừa phổi (không đầy) đoạn lên gân cổ rồi từ từ xoay cổ sang hướng trái (nhìn sang bên trái). Các phần khác không động đậy. (Hình 30)

Động tác 5: Hít thêm đầy hơi rồi từ từ gồng cổ xoay vào ngay giữa rồi sang bên phải. Mắt cố liếc nhìn ra sau lưng. (Giống hình 29)



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC11.jpg


YẾU LÝ: Động tác ba nới lỏng toàn diện thân, tay, thu chân về vị trí chuẩn bị, thở ra là lúc nghỉ xả hơi cho khí lực lưu thông tự nhiên. Kế đến động tác 4 cổ gồng xoay sang trái và tận lực liếc nhìn về sau lưng. Động tác 5 là lúc phổi tăng thêm dưỡng khí cổ cũng tăng thêm vận lực chuyển về hướng phải, liếc nhìn ra sau (vọng hậu tiền). Tuy là theo thứ tự có năm động tác cả thảy nhưng thực ra thì có 3 động tác thực sự có vận chuyển khí lực là động tác 2 và 4 – 5. Trong ba động tác nầy chủ luyện tập phần hông bán phần bên phải và 6 kinh trên hai tay cùng thân cổ. Khi xoay hông thì chuyển động trục xương sống tức căng thẳng và thúc đẩy co giãn hai kinh Nhâm Đốc tức hai kinh trọng đại nhất cơ thể con người. Phần nhận định dễ thấy là cột xương sống được vận động làm cột tủy được kích thích tăng hoạt vận động ích lợi cho mọi phần sinh lý liên quan.

Nếu không hít hơi vận khí mà chuyển động thân eo, cổ cũng là động tác tốt gây sự cường tráng dẻo dai của eo và sự linh hoạt tốt đẹp cho thần kinh hệ. Môn thể dục vận động Tây Phương Hy Lạp cũng có những động tác tương tự, chỉ thiếu phần vận khí và quán tưởng. Đông Tây gặp nhau là chỗ đó, bản sắc Đồng mà Di cũng ở chỗ đó. Bởi thế cho nên ngày nay tại châu Mỹ La Tinh và các khối quốc tế, người thức thời đua nhau học tập võ thuật Đông Phương và Nội Công Bát Đoạn Cẩm nói riêng. Môn Thái Cực Quyền là một hình thức tu luyện Bát Đoạn Cẩm hay Nội Công của tiên gia cũng vừa là quyền thế chiến đấu tự vệ hữu hiệu. Nhưng có điều muốn đạt tới chỗ hữu dụng phải tốn nhiều thì giờ. Bát Đoạn Cẩm có chỗ khác biệt: Mau thành.


Động tác 6:… Xả lực, đầu quay vào chính diện, song chưởng đưa lên tréo nhau trước mặt như động tác 1, hơi thở bình thường. (Hình 31)

Động tác 7:… Xoay cổ về bên trái, vận lực nơi cổ, chân trái đồng thời đưa sang trái một bước bằng vai, xoay hông sang trái, chưởng đẩy ra hai bên, v..v… làm giống như động tác 2. Giống hình ở động tác 2 tức hình 28, chỉ khác hướng nhìn.

Động tác 8:… Thu tay về như động tác 3, mắt liếc nhìn về sau hướng trái rồi chuyển gân cổ xoay về hướng phải…làm như động tác 4-5.

Sau cùng trở lại tư thế ban đầu để thực hiện trở lại một lần nữa từ đầu cho đến cuối. Nghĩa là đoạn nầy làm hai lượt cả thảy 12 cử động, nhưng nếu đánh số thứ tự thì 16 động tác.


YẾU LÝ: Ba động tác 6-7-8 không có gì mới mẻ, chẳng qua là lặp lại các động tác đã học ở trên 1-2…5, nghĩa là làm 3 cử động xoay qua bên trái. Và sau cùng là trở lại từ đầu để làm lại một chu kỳ.

Như vậy tổng cộng sẽ vận động được 12 lần, 8 lần vận động cổ và 4 lần vận động eo lưng và tay. Thấy như thế đủ biết phần cổ được chú trọng đặc biệt. Sự luyện tập cổ đã đưa đến kết quả tốt đẹp dễ thấy; trong võ đường, võ sư có căn bản có thể chịu được các đòn tấn công vào cổ, hoặc có thể cho siết cổ bằng tay, bằng dây, v…v… trong khi những người thường chỉ ấn nhẹ ngón tay vào yết hầu, hay bóp nhẹ sau gáy là nhảy nhỏm chịu không nổi. Nhất là hai ống huyết nằm bên cổ (thật ra hai đôi Tỉnh và Động) của người không tập luyện có thể bể ra, dập nát hay ứ huyết khi có bàn tay người va chạm. Một người thường cũng đủ sức chặt sau cổ của một người thường để làm người đó bất tỉnh…nếu mạnh có thể chết luôn. Nhưng đối với người thành tựu nội công thì các đòn đơn sơ đó chỉ là những động tác đấm bóp cho máu chạy điều hòa thêm mà thôi. Ngay như soạn giả, không phải một thành gia võ thượng về nội công nhưng mấy năm về trước cũng đủ để 6 người lực lưỡng, 3 người mỗi bên, thắt cổ bằng dây thừng trong ba phút đồng hồ vẫn chẳng thấy rêm nhức hay choáng váng mặt mày gì cả. Ai tập Bát Đoạn Cẩm nầy tới nơi cũng có thể làm được các trò vặt như soạn giả.

anbinh
11-07-2010, 06:15 PM
ĐỆ NGŨ ĐOẠN CẨM


CHUẨN BỊ: Cũng như mọi đoạn khc đều khởi đầu bằng tư thế chuẩn bị, nghĩa l thn thẳng đứng, hai tay bung xui hai bn thn v bn tay p vo hai bn đi, mắt nhn thẳng tới trước v hơi thở điều ha.

Duy c điều cần ni cho chư học giả r l khi no tập luyện đ thuần thục tm đoạn v thể lực đ c pht triển th chư vị c thể luyện tập lin tục từ đoạn thứ nhất đến đoạn thứ tm một mạch m khỏi cần ngừng nghỉ lấy sức ở cuối mỗi đoạn. Nghĩa l từ thế cht của đoạn nầy thu tay lại trong tư thế khởi đầu cho đoạn kế v cứ thế m luyện cho hết tm đoạn tức 96 lần vận chuyển kh lực, mỗi vận chuyển gồng gn như vậy l 6 giy đồng hồ, cộng lại l 576 giy tức chưa đầy 10 pht đồng hồ. Nhưng thực tế phải trải qua 16 động tc cho mỗi đoạn nn cộng chung l 128 động tc tức thời gian vận hnh v diu động l 768 giy tức 12 pht 48 giy. Kể cả thời gian chuẩn bị ht thở vi hơi trước khi khởi đầu th độ 15 pht cho mỗi buổi tập. Thật đơn giản, thch hợp cho đời sống bận rộn ngy nay, tưởng cc mn khc chưa c mn no tiện ch như thế. Tốt lnh thay.

4. Dao Đầu Bi Vĩ Khứ Tm Hỏa (Lắc đầu cong đt hết tnh nng nảy)

ni xoay đầu uốn mng sẽ trừ được bệnh dương thịnh tức Hỏa vọng (vượng).



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC12.jpg


Động tc 1: (Tiếp theo đoạn trước) Hai chn nhảy sang hai bn một khoảng cch rộng bằng tấn Kỵ M, xuống tấn bộ thấp như kỵ m, thn khom tới trước, hai bn tay chống trn hai đầu gối, hổ khẩu xoay vo trong vế, chỏ phải nghing qua phải, đầu ng về bn phải, mng đưa qua tri. (Hnh 33)


YẾU L: từ động tc chuẩn bị nhảy dạng hai chn ra thật l nhẹ nhng khng g b, đoạn xuống tấn từ từ chẳng cần vận lực, hai tay t ln gối, tay phải cong nơi chỏ v thn nghing qua phải v tay tri dĩ nhin phải thẳng. Đầu nghing qua phải nhưng vẫn ngc ln ng tới trước, mng ển ln đưa qua tri, giữ vai bằng khng cho so le.

Động tc 2: Cnh tay tri đẩy mạnh ln, ci chỏ phải co st lại, thn trn (đầu, cổ v vai) quay thấp về bn phải từ cao xuống theo đường cung, mng th cố đưa ln v hướng về bn tri. Lc ci xuống th ht hơi đầy v nn lại. ci xuống thật thấp xong tay phải chống ln cho thn trn theo đường cung cũ trở về vị tr ban đầu như hnh 33. (Hnh 34). Thở ra.

Động tc 3: Tay phải chỏi đầu gối thn trn thẳng dậy, hai bn tay p hai bn đi như hnh 35, kế xuống tấn Kỵ M, đầu ng về bn phải chỏ phải co lại, tay tri chống ln giống như động tc 2. Tức l thực hiện trở lại động tc 2 một lần nữa.

Động tc 4: Lm lại như động tc 2 một lần nữa.


YẾU L: Động tc 2-3-4 thật ra chỉ c một động tc 2 được lập lại 2 lần nữa tức lm 3 lần động tc 2 cả thảy. Sau cng th đứng dậy như hnh 35. Chỗ quan trọng cần đặc biệt lưu l lc ng người nghing về bn phải chn trụ tấn như trồng (khng lay chuyển), chỏ phải co đồng thời tay tri chống gối tri đẩy qua, đầu nghing v ton bộ phần trn thn mnh đều ln gn (gồng) cả cổ cũng gồng. Ni cho r l đầu vẽ một cung 180 độ từ trn xuống v ngược lại, lấy mng đt lm trục (tm). Đứng thẳng dậy th ht hơi (khng ht đầy lắm), nn hơi khi xoay xuống v trở về vị tr ban đầu. Khi xoay xuống th tận dụng sức lực tay tri v gồng hng bn tri, khi ln th vận dụng ton lực cnh tay phải v hng bn phải. Phải xoay ton thn trn chớ khng phải chỉ c xoay cổ khng m được. Lc xoay th eo hng mềm m thn trn gồng cứng.

Dĩ nhin ban đầu rất kh thuận hnh mềm dẻo nhưng về sau quen dần chẳng c g l kh. Lm từ từ chậm chậm khng lm mau. Lc xoay đi th cột xương sống như bn knh chuyển động uyển chuyển trn đường trn do đầu vẽ từ trn xuống v ngược lại. Lc lm phải thấy (nghe biết) sự chuyển động của từng bắp thịt v gn xương từ thn trn trở ln.



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC13.jpg


Động tc 5: Thn đứng như hnh 35, đầu nghing về bn tri bằng cch chỏi thẳng tay phải, co chỏ tri, xuống tấn Kỵ M(Hnh 36) Tiếp tục xoay đầu xuống trước, thấp, thn ngang bằng với mng th lại xoay trở về vị tr ban đầu (Hnh 37) Lm ba lần động tc nầy rồi trở về thế đứng thẳng như hnh 35.


YẾU L: Đy chẳng qua l động tc 2 hướng bn tri, do đ mọi nt biểu diễn từ hnh dạng đến nội dụng vận lực, h hấp đều giống y như động tc 2. Hễ đứng ln th H (thở ra), bắt đầu chuẩn bị ci xuống th Hấp tức ht vo. V nn hơi khi đầu xoay từ trn xuống v ngược lại. Nghĩa l lm ba lần xoay xuống ln th chỉ ht thở ba lần. Khi xoay đầu kh dằn xuống bụng cho thn trn đặng linh hoạt.

Nn biết động tc nầy ngy nay được nhiều trường phi vận động thể dục v v thuật u Chu dung thao diễn như những b quyết tạo sinh lực trước v sau cc buổi tập cũng như tại đấu trường. C điều người ta t thấu hiểu rằng phần quan trọng của thế tập nầy khng chỉ ở ci bề ngoi của n l ci xuống xoay ln sung sẻ v uyển chuyển, hoặc ht thở theo thng thường, m yếu quyết của n l sự gồng chuyển của thượng phần thần thể, từ ci chỏi tay pha bn nầy để xếp tay bn kia v ngược lại, vv Sự vận dụng vừa linh hoạt vừa gồng chuyển đầu, cổ, xương sống lm thức tỉnh ton bộ my tuần hon trong cơ thể con người. Điều đặc biệt l sự chống tay trước gối, hổ khẩu quay vo trong khi chỏi thẳng cnh tay th ngn ci bị căng thẳng dữ dội lm thng Kinh Phổi (Thủ Thi m Phế Kinh), khởi đầu từ trước vai dưới xương quay xanh chạy trn mặt ngoi của cnh tay đến chấm dứt nơi đầu ngn ci. Sự chỏi ln trong 6 giy đồng hồ l thời gian đủ cho kh lực đả thng ton kinh nầy. Đồng thời ngn tay t cũng nhờ động tc chỏi ln m thng suốt được Kinh Tim chạy từ đối với Kinh Phổi, nghĩa l mặt dưới của cnh tay chạy đến đầu ngn t. Bởi vận động hai kinh nầy nn khi chỏi tay nghe rm ngm ngẩm phần dưới lng bn tay chỗ ngn t v ngn ci, đồng thời nghe thng mt hai pha trong v ngoi (tức trn v dưới) cnh tay. Ấy l kh bị thc đẩy lưu thng vậy xem tiếp Yếu L động tc 8.



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC14.jpg


Động tc 6: Thn trn ci xuống trước, chỏ co lại, ci tận lực, chn vẫn giữ tấn Kỵ M, đầu ngước ln. Đoạn ngước ln bằng cch chống hai tay thn thẳng dậy từ từ rồi ngửa cổ về sau (lưng vẫn thẳng đứng). Kế ngẩng đầu ln trở lại tư thế như hnh 35 (Hnh 38 39). Lm 3 lần động tc nầy.


YẾU L: Khi thực hiện xong động tc 5 th thn trở về vị thế như hnh 35, kế dng sức nặng ton thn đ xuống trn hai tay co dần trong lc hơi đ bt đầy phổi. Khi ci xuống tận lực th giữ yn 6 giy đồng hồ với sự gồng cứng hai tay v như chịu sức nặng ngn cn trn lưng, cổ ngẩng ln cho mặt ngước tới trước. Xong từ từ chống hai tay ln với sức p xuống của ton thn cho đến khi lưng thẳng đứng th ngửa đầu ra sau, tưởng như c người nu đầu li xuống pha sau vậy. Chịu đựng tư thế nầy trong 6 giy đồng hồ rồi ngước cổ ln vị thế hnh 35 v từ từ thở ra. Sau đ ht hơi vo để tiếp tục lm trở lại Nn nhớ phải đứng đng tấn Kỵ M chớ khng phải trong thế đứng thẳng hai chn, c như thế mới c tc dụng đng mức khi ci xuống v ngước ln. Động tc ci xuống th cũng căng hai kinh Tim v Phổi, ngước ln th, hai cnh tay lại phải nn xuống đ ln đi nn cũng thc đẩy hai kinh nầy.

Do đ khi luyện tập động tc nầy m ci xuống ngước ln khng nghe my động trong hai cnh tay v gang bn tay th sai rồi cần lưu m lm lại cho đng.

Khi đ thực hiện đng ton bộ Bt Đoạn Cẩm th mỗi ci nhch động cũng đủ lm kh lực lưu thng mnh liệt gip cơ thể chế ngự cc yếu đuối thng thường của con người. V v thường xuyn được thng suốt kinh mạch, kh v huyết lưu thng thuần nhuận nn cơ thể tươi tốt. Việc nầy chẳng khc chi cy c tưới nước thường xuyn th tươi xanh, ruộng c nước thường xuyn th la tốt Cc phương php thể dục trn thế giới cũng nhằm điều động lượng huyết quản lưu thng tận cng trong mọi tế bo của cơ thể hầu nui dưỡng chng cho đặng tốt lnh, nhưng lắm khi p dụng phương php thiếu st hoặc qu bắt p nn lm đứt nhiều mạch huyết li ti m thn thường chẳng được sống thọ. Mn Bt Đoạn Cẩm tuyệt diệu ở chỗ dẫn huyết tưới nhuận cả cnh đồng thn thể m cn dẫn kh sưởi ấm mọi nơi nhưng chẳng gy tai hại nhỏ no. Danh bất hư truyền l ở chỗ đ.



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC15.jpg



Động tc 7-8:. Khi thực hiện xong động tc 6 th trở về vị thế hnh 35, kế nghing thn, đầu về hướng tri, cnh tay phải thẳng, tay tri co nơi chỏ, vừa nghing đầu vừa xoay từ trn xuống, tới khi đầu, mặt xuống trước hạ thấp st đất th quay lun trở ln sang hướng phải rồi trở về vị tr ban đầu. Ht một hơi trước khi xoay một vng, khi xoay đủ vng về đến vị tr cũ th thở ra từ từ, ht vo trước khi lm kế tiếp. Lm đủ 3 vng từ tri qua phải th bắt đầu lm nghịch lại từ phải qua tri cũng 3 lần. (Hnh 40-41).


YẾU L: Ht hơi v thở ra, tay chống ln hạ xuống trong động tc nầy giống như ở động tc 2 trong đoạn nầy, nhưng đoạn hai chỉ xoay nửa vng. Ở đy xoay trn một vng lin tục nn ht hơi cũng chẳng di hơn m chỏi tay c khc l phải nhịp nhng, hễ tay bn ny co lại tay kia phải duỗi (chỏi) v, khi thn qua bn khc rồi th tay chỏi ha thnh co. Động tc lin tục v lin lạc chống ln co xuống nhịp nhng khng g b. Thn v cổ gồng uốn uyển chuyển.

.(Tiếp yếu l ĐT 5). Động tc 2 th chủ đả thng từng kinh một trn mỗi tay ty từng co duỗi, động tc 5 cũng thc bch hai kinh cng lc lưu thng, ở đy, động tc 7-8 l phối hợp cc động tc trước, hay ni l cch huấn luyện kinh mạch ton thiện hơn, đầy đủ hơn, dịu dng nhưng mnh liệt v di hơi. Sự gồng chuyển lu hơn nn kinh mạch c thể được dịp tăng tiến khả năng bnh trướng cũng như thng suốt.

Phải hiểu rằng cc động tc trong đoạn nầy khi được thực hiện th khi ci xuống hay nghing qua lại giống như đ trn (nn) một ci l xo, khi thẳng dậy hai tay như sợi dy thun ko (l xo căng ra), mng đt l trục xoay, xương sống lưng như bn knh, đầu như đầu của com-pa. Nhưng mọi phần trn đều gồng chuyển m dẻo dai lin lạc mật thiết chớ khng cứng nhắc như vật v tri. Sau hết l mọi cử động đều phải dự bị ha hợp với hơi thở.


Ring đoạn nầy c thể tập thnh 3 lần ton đoạn từ đầu đến cuối để tăng lực lượng huyết mạch v dứt tnh nng nảy v bệnh bẩn huyết.

anbinh
11-18-2010, 08:24 PM
ĐỆ LỤC ĐOẠN CẨM


CHUẨN BỊ: Sau khi tập tới động tc cht của đoạn năm th thu tay chn trở về thế chuẩn bi như mợi thế bắt đầu …(Hnh 42)

6. Bối Hậu Thất Đin Bch Bệnh Tiu (sờ đầu xương cn trăm bệnh tiu tan)



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC16.jpg



Động tc 1:… Co gối hạ thn xuống (ngồi chồm hổm), hai tay từ hai bn mng lướt qua hai bn đi xuống tựa bn ngoi hai bắp chn, hơi thở để bnh trong bụng, kế đoạn thở ra v ht vo đầy phổi. Thp bụng lại, chn bng mạnh cho thn nhảy ln trn khng, người biến thnh thẳng đứng trong khng trung, hai tay ko ln vị tr cũ trong khi cn đang ở trn khng trung. Khi rơi xuống th mũi bn chn chạm đất trước kế đứng như hnh chuẩn bị. (Hnh 43).


YẾU L: Khi co chn (gối) hạ thn xuống khum khum như ngồi chồm hổm th chn bung lỏng tự nhin, hai tay cũng di chuyển nhẹ nhng. Lc ht hơi thp bụng th kh dồn ln ngực cho nhẹ phần dưới (đề kh) hai chn phải dồn hết sức lực nhảy vọt ln thẳng người như cy pho. Ni cho dễ hiểu động tc nầy giống như p ci l so, xuống th dằn (đ) cứng, bung th nhảy cao ln. Tất cả cũng chỉ xử dụng hai đi, do đ khi nhảy tm cũng ch hai đi. Khi rơi phải nhẹ nhng, xong mới thở ra. Động tc co chn lại th chậm chạp nhưng nhảy ln th mau lẹ. Biết được yếu l th khng cn sai vo đu được nữa.



http://i46.photobucket.com/albums/f110/GoldenEra/Y%20Vo%20Hoc/BDC17.jpg


Động tc 2:… Co chn xuống như động tc thứ nhất hnh 43 rồi nhảy ln như cy pho thăng thin, tay vuốt theo hai bn đi. Rơi xuống bằng đầu hai bn chn rồi kế mới đặt gt chn xuống… (Hnh 45), hnh 44 thế co chn nhn từ một bn.

Động tc 3 v 4:… Lm lại hai lần động tc 1. Nghĩa l từ đầu đến động tc 4 lm 4 lần động tc co chn nhảy ln.

Động tc 5:… Đứng thẳng như hnh chuẩn bị, hai bn tay từ hai bn đi đưa xo về sau mng đt, mũi bn tay (cc đầu ngn tay trỏ, giữa, p t v t chum lại) đồng bấu vo đầu xương cn, ngn ci bấu vo mng để kềm cho tay khỏi st ra (bấu chặt vừa vừa thi) rồi nhn gt chn ln, hạ xuống. Lc nhn ln ht hơi v hạ xuống th thở ra. Nhn ln giữ chn nhn gt tức chn thẳng cứng đi trong 6 giy đồng hồ, hai bn tay bấu đt bất động. (Hnh 46-47).

Động tc 6:… Lại nhn gt ln, hạ gt chn xuống như động tc 5…

Động tc 7 v 8: Lm lại hai lần như động tc 5. Tức động tc 5-6-7-8 lm giống nhau một kiểu, nhn gt bấu đt. Tập lại 3 lần từ đầu ch cuối.


YẾU L: Động tc 1 hay bốn động tc đầu của đoạn nầy nhằm lm dn ton diện thn mnh từ dưới ln trn, lại dụng lm thức tỉnh cc kinh mạch chnh yếu trong chu thn như hai kinh Nhm v Đốc để thch hợp cho cc động tc kế tiếp l thc đẩy kh lực lưu thng trọn vẹn trong hai kinh. Đy l cch by biện hay dọn cỗ bn chờ khch tới cũng đng.

Từ động tc 5 đến động tc 8 hon ton chủ trương bấu vo xương cn, bấu từng hồi, lin tục 4 ci lin tiếp. Ci bấu tay nhằm gy chấn động đến hai kinh Nhm v Đốc l hai kinh chnh yếu của con người, một kinh mang nhiều trch nhiệm bảo ton sinh mạng cũng như năng lực…

Do mỗi lần nhn chn ln, hạ chn xuống, đầu hai bn tay khch động thức tỉnh hai đầu kinh Đốc, kinh từ đầu xương cn chạy theo sng lưng ln đỉnh đầu v tới trước nhn trung (dưới mũi). Một kinh chủ định việc ha hợp cc chức vụ của cc cơ quan trong mnh. Nhm kinh khởi đầu từ cuối đường chỉ dưới bộ phận sinh dục gần hậu mn (lỗ đt) ln tới dưới cằm, chạy theo đường lng phn ranh trước bụng, ngực, cổ, cằm. Chnh n cũng giữ vai tr dung hợp một số hoạt động của cc phần trong chu thn. Sự va chạm từng hồi theo nhịp 6 giy đồng hồ của mũi bn tay trn hai đầu dy kinh nầy thc đẩy kh lực lưu thng, v khi đ thng được hai kinh quan trọng nầy th mọi bệnh được tiu trừ v nguồn năng lực của con người sẽ trở nn mnh liệt khng thể diễn tả cho hết được. Trong cuốn Nội Cng Thiếu Lm Tự đ giảng r việc khai mở hai kinh nầy bằng h hấp theo Vng Chu Thin l trnh độ cao thuộc mn tĩnh luyện. Ở đy thuộc động luyện nhằm khơi động (kch thch) gy chấn động đả thng, d khng phải l phương php ton hảo nhưng vẫn c gi trị cấp tốc v dễ dng. Một đng khai mở kinh chnh yếu theo đường lối tiệm tiến (tiến dần từ gốc ra ngọn) cn một đằng đi từ ngọn vo gốc, hết cc ngọn cũng tới gốc, d khng tổng hợp nhất thời nhưng khi đả thng được mọi kinh mạch th thn thể cũng đạt đến chỗ cường kiện trường thọ vậy.

Sự bấu từng chập nhờ nhn ln hạ xuống lm vang dội tận cng trn hai kinh. Tốt hơn, hễ mỗi lần hạ chn xuống th thắt hậu mn (nhu đt) một ci cho tăng sự thức tỉnh hai kinh. Nn biết ngy xưa trước khi về nh chồng cc b mẹ khn ngoan đều dạy con gi mnh những phương php vệ sinh thường thức như lm sao cho chồng ham m sinh l, ham m vừa phải khi gặp người chồng lạnh nhạt, hoặc lm sao giảm bớt cường độ ham muốn tnh dục qu độ của người chồng bằng khoa cho ăn uống…. trong việc dạy vệ sinh giao hoan b mẹ dạy khi no người chồng bất tỉnh nhn sự trn mnh vợ lc lm trận th dng trm ci đầu hay mc tai, (lng nhm) chm vo đầu xương cn chồng sau khi sờ khm cẩn thận, chm thật chnh xc, gọn lẹ v ngn tay cầm đầu trm khng qu một phn ty, chớ chẳng nn x chồng ng xuống v sợ sệt. Ngy nay t người biết mặc d khoa học văn minh hơn. Đ l chm cứu huyệt của kinh Tch Tủy lm thức tỉnh mọi cơ năng lm hồi tỉnh người đnh mất sinh kh lực nhất thời trong cơn xc cảm. (Người dm dục qu độ m thn thể bạc nhược mới bị chứng nầy, bạc nhược đy khng c nghĩa l thn thể gầy ốm m l tinh thần bạc nhược, một người kh lực thiếu sự lưu thng v sự thừa lượng, ăn khng ngồi rồi thiếu vận động, mới đy bo ch đăng rộ, vị Hồng Y bn Ty chết trong nh gi mi dm cũng do chứng ny).

Sự xc cảm đột ngột v qu mạnh lm ngưng cc hoạt động của cc kinh nn gy sự bất đắc kỳ tử, m hai kinh chủ yếu l kinh Nhm v Đốc. Theo cc bc sĩ d chiến (bc sĩ ngoi mặt trận) cho biết cc chiến sĩ bị bắn trng xương sống (đứt kinh Đốc) chết đột ngột th dương vật (con cu) xuất tinh ướt cả quần lt. Nhiều người đn ng (đa số) cn khỏe mạnh m chết cũng xuất tinh. Người treo cổ chết cũng xuất tinh đầy quần ấy bởi sợi dy thắt trng (gt) Đốc kinh sau gy.

Do sự nhạy cảm v dễ đả thng bằng lối kch thch, động tc Bt Đoạn Cẩm nầy nhằm khai thc kch động trn hai đầu kinh Nhm Đốc nhằm tạo sự gia tăng hiệu năng tạo dựng năng lực, pht triển kh lực trong hai kinh, để xua đuổi mọi mệt mỏi suy yếu v “km lao động” t vận động hoặc vận động sai tự nhin. Khi hai kinh Nhm Đốc được thc đẩy thng suốt cng cc bộ kinh mạch khc cũng thng suốt th thn thể suốt đời cường kiện, đ cường kiện th trăm bệnh cn chỗ đu vương vấn…. Ấy, nghĩa l vậy.

Sau hết điều cần được lưu , khi bấu vo xương cn chớ bấu chặt lin tục m theo với động tc nhn ln bấu vo rồi lại thả ra (lơi ra) từng chập. Khi xong đoạn tập thấy vng lỗ đt t t (the the hay mt mt) như c xức dầu Nhị Thin Đường th đng, cn bấu đả đời m bung tay ra chẳng thấy cảm gic g th lm sai hoặc thần kinh tủy bị bệnh, nn tới bc sĩ chuyn mn hoặc thầy chm cứu nhờ coi sc. Nn biết t c người bị chứng liệt thần kinh tủy sống, v liệt th con người đ hết xi, hết xi trong mọi trường hợp v mọi sự việc.

Phước thay, người tập Bt Đoạn Cẩm no cũng thấu lẽ tự nhin sinh tồn, dồn giữ được sinh lực nn ai cũng đẹp đẽ phương phi vui tươi yu đời, x hội lnh mạnh nếu mọi người đều ham thch mn học bổ ch nầy.