Tự Do - Vui Vẻ - Tôn Trọng - Bình Đẳng

Upload Hình Ảnh Chữ Trang Trí My Album My Music Tạo Index


Tự Do Tôn Giáo
Thời Sự Chính Trị
Góc Bếp Ngũ Vị
Nhạc Việt Nam
Show Ca Nhạc - Hài

>>Suy Ngẫm: “ * Tiêu diệtt được mọi lo âu phiền toái trong tâm hồn, ấy là đã tìm được một nguồn hạnh phúc vĩ đại.
Kinh Udanavarga
Trang 3 / 5 ĐầuĐầu 12345 Cuối Cuối
Results 21 to 30 of 44

Chủ Đề: Bạch Nhật Quỷ Hồn

  1. #20
    Join Date
    Sep 2010
    Bài Viết
    51,725
    Thanks
    1
    Được Cám Ơn 26 Lần
    Trong 26 Bài Viết
    Hồi 8

    Hiệp Tâm Đắc Hồ Thê
    Tầm Mã Ngộ Cường Địch

    Nhắc lại, Hãn Thanh rời khỏi Kim Thạch Sơn Trang, không theo đường quan đạo mà cắt rừng để chạy. Khi biết chắc không ai đuổi theo kịp, Hãn Thanh nhảy lên chạng ba một cây cổ thụ, ngủ say với gối chăn đã mang theo.
    Sáng ra, tiếng chim rừng ríu rít đánh thức chàng dậy, Hãn Thanh nảy xuốg, dựa vào hướng mặt trời mọc mà đi. Sau năm ngày bạt thiệp đường rừng, chàng ra đến đoạn quan đạo cách Tinh Châu hơn trăm dặm.
    Trên đường, bọn giáo chúng áo vàng của Thần Tiên Giáo qua lại tấp nập khiến Hãn Thanh sinh lòng cảnh giác. Bộ võ phục màu lam thẩm của chàng đã rách nhiều chỗ vì gai góc trong từng, dễ gây nghi ngờ. Chàng ẩn lại trong bìa rừng, chờ đoàn kỵ mã đi qua mới bước ra.
    Đi được hơn dặm, Hãn Thanh nghe sau lưng vọng tiếng vó ngựa lóc cóc.
    Chàng quay lại, nhận ra một chiếc xe song mã sang trọng, có lẽ của nhà quyền quý nào đi Ngũ Đài Sơn dâng hương nhân ngày mùng một, giờ trở lại Tinh Châu.
    Hãn Thanh tiếp tục bước đi, không lưu tâm đến nữa. Lát sau, cỗ xe đến nơi, đi song song với chàng, và đột nhiên có tiếng nữ nhân thánh thót:
    - Các hạ có muốn đi nhờ xe không?
    Cỗ xe dừng lại, cửa sau bật mở. Trong thùng xe rộng rãi kia chỉ có một nữ lang áo hồng xinh đẹp!
    Thấy Hãn Thanh lưỡng lự, nữ lang cười khúc khích:
    - Ta không sợ mà các hạ lại sợ hay sao?
    Hãn Thanh gượng cười, bước lên xe, ngồi ở băng ghế mé tả, đối diện với nàng. Nữ lang không bước ra mà cánh cửa thùng xe tự động đóng lại, khiến Hãn Thanh giật mình khâm phục.
    Nữ lang điềm nhiên nói:
    - Thiếp bị liệt hai chân nên cỗ xe này được bố trí cơ quan rất tiện lợi!
    Hãn Thanh bối rối, chẳng biết nói sao. Chàng đặng hắng rồi vòng tay thi lễ:
    - Tại hạ là Mộ Dung Hãn Thanh, xin được thỉnh giáo phương danh của tiểu thư!
    Đôi mắt bồ câu đen láy kia sáng lên ánh vui mừng:
    - Té ra là Tiểu Hầu Gia, thiếp là Tề Đạm Vân xin ra mắt!
    Nàng tinh nghịch hỏi:
    - Thiếp thường nghe giang hồ truyền tụng Tiểu Hầu Gia phong tư tuấn dật, hiên ngang, sao nay lại tiều tụy, xốc xếch thế kia?
    Chàng cười đáp:
    - Tại hạ lạc trong rừng mấy ngày đêm nên hình dạng thảm hại làm bẩn mắt tiểu thư!
    Đạm Vân cười khanh khách:
    - Chứ không phải công tử bị Thần Tiên Giáo truy sát hay sao? Trên đường đi, thiếp đã bị họ chặn xét mấy lần rồi!
    Mặt Hãn Thanh nghiêm lại:
    - Quả đúng vậy! Tại hạ xin xuống xe để khỏi liên lụy đến tiểu thư!
    Đạm Vân xua tay:
    - Công tử đừng nói vậy, thiếp nghe bàn tán, cố tình đón cho được công tử, lẽ nào lại để chàng đi?
    Bỗng nàng đổi giọng u buồn:
    - Hay công tử chê thiếp là kẻ tàn phế nên không muốn thân cận?
    Hãn Thanh nghe áy náy, vội biện bạch!
    - Tiểu thư đừng nghĩ xấu cho Thanh này! Nếu nàng đã có lòng hạ cố, tại hạ xin ở lại phụng bồi!
    Đạm Vân mỉm cười nhưng giọng lại ai oán:
    - Thiếp sống cô đơn từ nhỏ trong núi rừng, mặc cảm thân phận nên chẳng dám kết bạn với ai! Nay gặp công tử không hiểu sao lòng lại vô cùng mến mộ...
    Nàng thở dài không nói hết lời, sắc diện não nề. Hãn Thanh nhận ra Đạm Vân diễm lệ phi thường, không thua gì Tiểu Thuần hay Ngũ Đài Ma Cơ. Đôi mắt buồn vời vợi kia khiến chàng bất giác nẩy sinh lòng thương cảm, muốn bảo bọc cô gái bạc mệnh yếu đuối.
    Cỗ xe lăn bánh rất nhanh và êm ái. Cảnh vật bên đường lướt nhanh qua khung cửa sổ nhỏ trên vách thùng xe. Đạm Vân bỗng che miệng ngáp, khiến Hãn Thanh cũng ngáp theo. Nàng bật cười:
    - Chắc công tử cũng mệt mõi như thiếp, xin cứ tùy tiện nằm xuống ghế mà ngủ!
    Nhưng gã xà ích đã nói vọng vào:
    - Bẩm tiểu thư! Phía trước có trạm tra xét của Thần Tiên Giáo!
    Thì ra gã là nữ nhân cải nam trang. Hãn Thanh mỉm cười:
    - Cảm tạ tiểu thư đã cho quá giang một đỗi đường, giờ xin cáo biệt. Tại hạ không thể liên lụy đến cô nương được!
    Đạm Vân lắc đầu:
    - Công tử khoan hãy xuống xe, chắc gì họ đã chặn chúng ta lại?
    Nàng bấm vào một nút nhỏ trên vách, lập tức có hai miếng pha lê sậm màu tuột xuống, bịt kín hai ô cửa sổ.
    Đạm Vân cười bảo:
    - Loại kính này được mua của bọn Hà Lan ở bờ biển Quảng Châu, chứ không phải sản phẩm Trung Quốc!
    Nói xong, nàng nói qua ô nhỏ sau lưng xà ích:
    - Tiểu Ngư! Ngươi cố thu xếp cho êm thắm, đừng để ta phải buồn vì không được bầu bạn với Tiểu Hầu Gia!
    ã nữ tỳ cười khúc khích:
    - Tiểu thư yên tâm, nô tỳ đã hiểu!
    Cỗ xe chậm lại như không dừng hẳn. Hãn Thanh nghe có tiếng người quát hỏi rấyhách dịch:
    - Mau dừng lại cho bổn giá tra xét thùng xe!
    Tiểu Ngư đột nhiên bật cười dòn dã, vẫn cho xe đi tiếp. Lạ thay, chẳng có ai cản lại cả! Cỗ xe dần dần tăng tốc, phi nhanh như cũ!
    Rời xa chỗ ấy hơn dặm, Đạm Vân mới phát động cơ quan, kéo hai mảnh kính pha lê lên. Vì đã quá xa nên dù Hãn Thanh có thò đầu ra ngoài cũng không thể thấy được hai chục xác áo vàng nằm co quắp trên đường quan đạo.
    Chàng hiếu kỳ hỏi:
    - Tề tiểu thư! Tiểu Ngư cô nương đã thi triển tuyệt kỹ gì mà khiến cho bọn Thần Tiên Giáo không dám chặn xe?
    Đạm Vân mỉm cười bí ẩn:
    - Chắc công tử có nghe qua công phu Câu Hồn Tiếu của Tà Môn?
    Hãn Thanh nhớ đến lần Ngũ Đài Ma Cơ thi triển tà pháp Ma Tiếu Mê Hương, mặt chàng đỏ bừng, không dám hỏi thêm!
    Chàng càng lúng túng khi Đạm Vân bảo:
    - Thiếp cần phải ngủ một chút, mong công tử nhấc dùm đôi chân tàn phế này lên ghế!
    Nàng nằm ngửa xuống băng ghế nệm bọc da êm ái, nhưng không nhấc nổi hai chân lên, Hãn Thanh đành bước đến, nhẹ nhàng nâng giúp nàng.
    Nhưng xe lại đang đi vào đoạn quan đạo gập ghềnh, xe xóc mạnh khiến đôi chân bất lực kia rơi xuống, Hãn Thanh vội giữ lấy, không dám buông ra.
    Đạm Vân buồn bã nói:
    - Tấm thân tàn phế này quả là vô dụng, thiếp chỉ muốn chết đi cho xong!
    Nỗi thương cảm ngút ngàn khiến chàng thêm bối rối. Hãn Thanh ngồi xuống sàn xe, dựa lưng vào băng ghế, chặn không cho Đạm Vân rơi xuống.
    Nửa khắc sau, chàng liếc nhìn thấy Đạm Vân đã ngủ say. Đã đến đoạn đường bằng phẳng, nhưng chàng không dám rời chỗ, gục đầu vào hai gối mà ngủ gật. Mấy đêm rồi chàng ngủ trong rừng già đầy muỗi mòng nên không yên giấc, giờ đây mệt mỏi thiếp đi.
    Một mùi hương là lạ bỗng tỏa ngào ngạt trong thùng xe, khiến chàng ngủ say như chết, hoàn toàn không biết những sự cố đã xảy ra với cỗ xe song mã.
    Khi Hãn Thanh tỉnh giấc thì nhận ra tư thế ngồi của chàng đã xoay ngược lại, hai tay ôm lấy Đạm Vân, gối má lên bụng mỹ nhân.
    Hãn Thanh ngượng ngùng khôn xiết, định nói lời tạ lỗi. Nào ngờ Đạm Vân đã mỉm cười:
    - Cảm tạ công tử đã giữ cho thiếp yên giấc! Nhờ chàng đõ dùm thiếp dậy!
    Hãn Thanh đỏ mặt làm theo lời người ngọc. Chành định trở vể ghế bên kia thì Đạm Vân giữ lại:
    - Công tử đã ôm thiếp suốt mấy canh giờ, chẳng lẽ lại không dám ngồi gần?
    Hãn Thanh đành an tọa, xốn xang vì mùi da thịt nồng nàn. Đạm Vân ngã đầu vào vai chàng thỏ thẻ:
    - Đây là lần đầu tiên tấm thân tàn tật này được một nam nhân chạm đến.
    Thiếp sẽ nhớ mãi phút này!
    Giọng nàng bi thương, ai oán khiến Hãn Thanh nghe dạ xót xa, xiết nhẹ vai nàng. Thân hình mềm mại của người ngọc dựa sát người, nhưng lạ thay, chàng không hề nổi tà dâm. Đạm Vân bỗng ngồi thẳng lên, nhìn vào mắt chàng:
    - Công tử! Cánh rừng này chỉ cách Tinh Châu có mấy dặm đường. Thiếp phải rẽ về Tây, sống chết thế nào chưa rõ nên chẳng dám hẹn ngày tái ngộ.
    Hãn Thanh giật mình:
    - Tiểu thư đi đâu mà lại nói lời vĩnh biệt như vậy?
    Đạm Vân nhếch đôi môi anh đào, nụ cười khô héo:
    - Thiếp vốn là một kẻ ngông cuồng, hiếu sát, năm xưa bị một vị kỳ nhân dùng phép kỳ kinh triệt mạch phế bỏ đôi chân, giam trong một sơn cốc ở núi Yến Sơn. Nay đã hết hạn mười năm lao lung, thiếp phải đến U Linh Cốc trình diện. Nếu vị kỳ nhân ấy không khai ân giải tỏa cho đôi chân, thiếp thà tự sát chứ không kéo lê cuộc sống thừa này nữa.
    Hãn Thanh nghĩ đến hành vi của mẫu thân mình ngày xưa, bất giác đồng cảm với Đạm Vân. Chàng khẳng khái nói:
    - Mười năm giam cầm, chịu tàn phế cũng đủ để xóa đi tội lỗi ngày xưa.
    Nếu sự hiện diện của tại hạ giúp được tiểu thư thì Thanh tôi xin tận lực!
    Đạm Vân hoan hỉ đáp:
    - Công tử có cốt cách thanh kỳ, tôn quý, tất sẽ được Quỷ Hồ Giám Quan nể mặt. Nhưng chàng phải chịu khuất tất nhận thiếp là người hôn phối mới được!
    Hãn Thanh là đệ tử của bậc Chân Nhân, không chấp nhất tiểu tiết, khăng khăng giữ chữ tín nhỏ nhoi, nên điềm nhiên dáp:
    - Tại hạ chẳng phải bậc quân tử nên sẵn sàng bịa chuyện để cứu cô nương. Chỉ mong cô nương thực tâm hướng thiện, đừng sa vào nẻo ác nữa!
    Đạm Vân tươi cười, nửa đùa nửa thật:
    - Thiếp đã có được lang quân như chàng tất phải trọn đạo phụng thờ hầu hạ, làm sao dám buông lung nữa!
    Hãn Thanh gượng cười:
    - Bao giờ chúng ta mới đi U Linh Cốc?
    Bỗng xà ích Tiểu Ngư lên tiếng:
    - Nhiệm vụ của nô tỳ đến đây đã xong! Xin cáo biệt tiểu thư và công tử!
    Giọng nói xa dần và mất hút. Hãn Thanh ngơ ngác hỏi:
    - Tiểu Ngư không đi với chúng ta sao?
    Đạm Vân lắc đầu:
    - U Linh Cốc chỉ cách đây vài dặm, không cho quá hai người vào, vì vậy Tiểu Ngư phải trở về Yến Sơn! Thực ra, Tiểu Ngư chính là người giám sát thiếp!
    Nàng bấm nút cơ quan, mở cửa xe rồi cười bảo:
    - Phiền công tử cõng thiếp vậy!
    Hãn Thanh chợt nghe đói bụng, liền lấy hai viên Tịnh Cốc Toàn Sinh Hoàn cuối cùng, trao cho nàng một viên:
    - Tề cô nương hãy dùng viên thuốc này để chống đói!
    Chàng tự nuốt một viên, Đạm Vân đưa viên linh đan lên miệng nhấm thử, cười bảo:
    - Đây là vật quý của Thiết Địch Thần Y, không ngờ công tử lại có được!
    Hãn Thanh quay lưng lại cho nàng ôm lấy rồi xuống xe. Theo sự hướng dẫn của Đạm Vân, chàng đi vào những con đường mòn gai góc, tiến đến một vách đá dựng đứng, cao ước ba mươi trượng.
    Và trên bức vách ấy có khe khá rộng, đủ cho hai kỵ sĩ đi vào song song, giờ đây, sương mù giăng mắc che mờ lối đi.
    Đạm Vân thì thào vào tai Hãn Thanh:
    - Vị kỳ nhân Quỷ Hồ Tổng Giám kia kỳ thực là gia phụ, tên gọi Tề Phi Tuyết, mong chàng xưng hô cho đúng lễ, chúng ta cũng phải đổi sang cách gọi thân mật!
    Hãn Thanh hơi bất ngờ, nhưng lòng dạ quảng đại nên không bắt lỗi.
    Chàng chỉ cười đáp:
    - Té ra Vân muội là ái nữ của cốc chủ! Hùm dữ không nỡ ăn thịt con, sao lại cần ta phải giả làm chồng?
    Đạm Vân thở dài:
    - Sự tình không phải đơn giản như tướng công nghĩ đâu! Gia phụ chấp chưởng hình pháp, thiết diện vô tư, dẫu con ruột cũng không tha!
    Hãn Thanh bỗng hiếu kỳ hỏi:
    - Năm xưa, Vân muội đã phạm lỗi gì mà bị lệnh tôn phạt nặng như vậy?
    Đạm Vân buồn bã kể:
    - Ngoài tội lạm sát đồng đạo, thiếp còn giết chết người tỳ thiếp của gia phụ. Nàng ta được cưng chiều nên ức hiếp gia mẫu, thiếp không chịu nổi mới ra tay!
    Hãn Thanh cười nhạt:
    - Xem ra lệnh tôn cũng chẳng phải kẻ công bằng, chính trực!
    Đạm Vân biện bạch:
    - Tướng công lầm rồi! Vì nhị nương lại là Thánh Nữ U Linh Cốc, ái nữ của tiền nhiệm cốc chủ! Vì vậy thiếp mới mang trọng tội!
    Đi hết đoạn khe núi dài năm sáu chục trượng mới vào đến sơn cốc. Đây là một thung lũng nằm giữa những vách núi cao nên ánh tà dương không rọi vào được. Sương mù lảng vảng khiến khung cảnh âm u xứng danh U Linh Cốc!
    Hãn Thanh chẳng thấy bóng người nào, liền hỏi:
    - Sao sơn cốc vằng tanh, nhà cửa cũng chẳng thấy đâu?
    Đạm Vân vui vẻ đáp:
    - Chàng bị che mắt bởi trận pháp U Linh Trấn Môn, chỉ cần bước sang tả ba bước, ngang năm bước, tiến bảy bước, là sẽ qua được thôi!
    Hãn Thanh làm theo lời nàng, quả nhiên nhìn thấy hằng trăm tòa trúc xá nằm dưới chân vách cốc, bao lấy khu vườn hoa muôn màu ở giữa. Nhưng tất cả đều im lìm như không có sự sống.
    Đạm Vân giải thích:
    - Người trong Cốc đang tĩnh tọa. Tướng công cứ đưa thiếp vào căn tiểu xá có cửa màu hồng ở mé tả. Đấy chính là khuê phòng của thiếp!
    Chàng rảo bước đến nơi ấy, mừng rỡ nhận ra cạnh trúc xá có suối nước trong veo.
    Chàng đẩy cửa bưóc vào, thấy mọi vật đều sạch sẽ, không một hạt bụi, liền đặt Đạm Vân và hành lý lên giường. Nàng cười bảo:
    - Tướng công! Dọc đường thiếp đã nhờ Tiểu Ngư mua cho chàng mấy bộ y phục!
    Hãn Thanh hài lòng, mở tay nải của Đạm Vân ra, lấy một bộ màu trắng, định ra suối tắm rửa. Nào ngờ mỹ nhân phụng phịu nói:
    - Chàng không nghĩ đến thiếp sao?
    Hãn Thanh nhăn mặt:
    - Ta thực lòng chẳng dám mạo phạm đến nàng!
    Đạm Vân thẹn thùng đáp:
    - Thân thiếp tật nguyền, chẳng đáng để tướng công phải bận tâm đâu.
    Hãn Thanh thở dài, bồng nàng ra suối. May thay giữa dòng có tảng đá lớn và bằng phẳng, thấp hơn mực nước hai gang. Chàng đặt nàng lên đấy rồi quay đi, tắm gội cho bản thân.
    Gần khắc sau, Hãn Thanh nghe gọi:
    - Tướng công! Thiếp đã xong rồi!
    Chàng quay lại, giật bắn mình khi thấy mỹ nhân hoàn toàn lõa thể. Thân trên ngà ngọc lộ rõ vẻ thanh tân!
    Đạm Vân tình tứ trách móc:
    - Y phục của thiếp đã trôi đi cả rồi! Chàng mau đưa thiếp đi vào đi!
    Hãn Thanh cắn mạnh vào lưỡi để trấn áp lửa dục, bước đến bồng nàng vào trúc xá! Chàng cũng đang ở trần nên da thịt hai người sát vào nhau tạo cảm giác lâng lâng!
    Hãn Thanh đặt nàng lên giường, cạnh bọc hành lý rồi nghiêm giọng:
    - Tại hạ bị nhiểm chất độc trong máu thịt Hồng Sắc Mãng Xà nên dục tính rất vượng, e rằng không giữ được lương tri. Mong cô nương tự mặc y phục vào!
    Dứt lời chàng vơ bộ quần áo khô bước ra ngoài, Hãn Thanh thay xong, đứng lại bên bờ suối, chờ đợi.
    Chàng không biết rằng trong một lùm cây gần đấy có cặp mắt sắc như dao đang nhìn mình. Người này gật gù, ra vẻ hài lòng khi thấy chàng giữ được cái tâm quang minh chính đại!
    Tiếng Đạm Vân thánh thót vọng ra:
    - Tướng công! Xin mời vào!
    Lối xưng hô thân mật, ngọt ngào kia càng khiến chàng bâng khuâng trong dạ.
    Trời đã tối hẳn, Hãn Thanh châm ngọn nến sáp rồi ngồi xuống ghế.
    Chàng nóng ruột hỏi:
    - Vân muội, chừng nào chúng ta mới được bái kiến lệnh tôn?
    Đạm Vân mỉm cười:
    - Sáng mai gia phụ mới xuất quan. Tướng công cứ yên tâm ngủ đi!
    Last edited by giavui; 07-08-2011 at 08:53 PM.

  2. #21
    Join Date
    Sep 2010
    Bài Viết
    51,725
    Thanks
    1
    Được Cám Ơn 26 Lần
    Trong 26 Bài Viết
    Hãn Thanh gật đầu:
    - Ta cũng phải tĩnh tọa, không thể xao nhãng được!
    Quả thực là sau khi ăn cả con linh xà, chàng rất cần điều tức để dung hòa dược lực vào kinh mạch, bồi bổ chân nguyên. Việc này kéo dài cả năm chứ không chỉ một ngày một bửa.
    Hãn Thanh tọa công đến tận cuối canh ba mới xong. Đạm Vân vẫn chưa ngủ, gương đôi mắt huyền ngắm nhìn dung mạo anh tuấn tuyệt luân của người chồng hờ!
    Nàng âu yếm nói:
    - Tướng công hãy nằm cạnh thiếp, nếu không sẽ chẳng giống phu thê, sự việc sẽ bại lộ ngay!
    Sau cuộc tĩnh tọa, tâm trí Hãn Thanh sáng suốt, thư thái, không sợ bị lửa dục tấn công, nên chàng thản nhiên ngã lưng xuống giường, chỉ lát sau là ngủ ngay.
    Mờ sáng, hai người thức giấc, nhìn nhau e thẹn. Họ rửa mặt, thay áo xong thì bình minh ló dạng. Hãn Thanh bồng Đạm Vân tiến về phía căn nhà gỗ lớn nhất ở cuối Cốc.
    Trên thềm đã có người chờ sẵn. Không phải là một mà là đến bảy lão nhân tóc bạc, bốn nam ba nữ! Họ ngồi trên những chiếc ghế dựa, xếp theo hình cánh cung. Cỗ Đại Ž ở giữa, số còn lại nhỏ hơn!
    Người ngự tọa trên Đại Ž là một lão già mặt đỏ, râu đen, đầu đội mũ triều thiên, dung mạo uy nghi đến khiếp người.
    Đạm Vân nói nhỏ:
    - Tướng công! Người mặt đỏ chính là gia phụ, còn sáu người kia là U Linh Phán Quan! Chàng hãy đặt thiếp xuống sàn gạch để thi lễ.
    Hãn Thanh cúi xuống, để mỹ nhân ngồi xệp theo kiểu nửa quỳ, rồi cũng quỳ kế bên. Đạm Vân run rẩy lạy:
    - Hài nhi bái kiến phụ thân và lục vị Phán Quan!
    Hãn Thanh cũng dập đầu!
    - Tiểu tế Mộ Dung Hãn Thanh xin ra mắt cốc chủ và lục vị trưởng bối!
    Quỷ Hồ Tổng Giám ngửa cổ cười vang. Tiếng cười của lão âm u như vọng về từ chốn diêm đài. Lão lạnh lùng bảo:
    - Có thực công tử chịu gá nghĩa với khuyển nữ Đạm Vân hay chỉ tòng quyền đi giúp người?
    Câu hỏi sắc bén kia khiến Đạm Vân run lẩy bẩy, nhìn Hãn Thanh mà lệ tuôn trào!
    Tề Phi Tuyết nói tiếp:
    - Lão phu cũng xin nói rõ để công tử dễ quyết định! Thực ra thì Đạm Vân và tất cả những người trong Linh Cốc này đểu là chồn, quỷ chứ chẳng phải thường nhân. Còn về tuổi tác thì Vân nhi đã quá ba mươi chứ không trẻ như dung mạo đâu!
    Hãn Thanh trầm ngâm một lúc, chỉnh sắc bảo:
    - Vãn bối đã có hai phu nhân ở nhà. Nếu cốc chủ ưng thuận để Đạm Vân chịu phận lẽ mọn thì vãn bối xin hỏi cưới nàng, bất kể tuổi tác và lai lịch!
    Sáu vị Phán Quan mỉm cười còn Tề Phi Tuyết giận dữ hỏi lại:
    - Ngươi không phải là kẻ háo sắc, u mê, sao lại chấp nhận lấy vợ là hồ ly?
    Hãn Thanh ung dung đáp:
    - Vạn vật đồng nhất thể! Chồn hay người nào khác gì nhau? Mong cốc chủ khai ân tác hợp cho!
    Tề Phi Tuyết gật gù:
    - Lão phu muốn công tử chứng tỏ lòng thành bằng cách chịu thử ba chiêu chưởng pháp. Nếu qua được, lão phu sẽ tha tội cho Đạm Vân và nhận ngươi làm rể.
    Đạm Vân kinh hãi kêu lên:
    - Xin phụ thân nương tay!
    Hãn Thanh đã luyện thành công phu Thiên Ma Bách Luyện, hiên ngang nhận lời:
    - Vãn bối xin tuân mệnh!
    Chàng đứng lên, liền bị Đạm Vân ôm chân khóc lóc, van nài:
    - Tướng công hãy rời khỏi nơi này ngay thôi! ®o ®nh Tam Thức lợi hại vô song, chàng không sống nổi đâu!
    Hãn Thanh cảm động, vuốt tóc nàng trấn an:
    - Ta đã dám lấy một ả hồ ly xinh đẹp như nàng, chẳng lẽ lại không đủ bản lãnh để tiếp nhạc phụ vài chiêu hay sao?
    Chàng cúi xuống, bồng nàng đặt lên mép thềm rồi vòng tay nói:
    - Xin cốc chủ chỉ giáo!
    Tề Phi Tuyết đứng lên, bước xuống đứng đối diện Hãn Thanh, nghiêm giọng:
    - Lão phu sẽ xuất thủ thật chậm để khỏi mang tiếng già hiếp trẻ! Nếu tự lượng không nổi thì có thể bỏ cuộc!
    Hãn Thanh gật đầu, bảo nguyên thủ nhất, dồn chân khí ra song thủ chờ đợi.
    U Linh Cốc chủ nhẹ nhàng thi triển chiêu thứ nhất. Tuy động tác của lão không nhanh mà chưởng ảnh trùng điệp như ngàn bàn tay ma quái. Hãn Thanh vội đạp theo phương vị Cửu Cung, xuất chiêu Đại Giang Phong Vũ, bằng thủ pháp Kim Sa Ấn, vỗ liền chín đạo chưởng kình vàng nhạt mãnh liệt như mưa gió trên sông dài.
    Chưởng phong chạm nhau nổ vang rền, và Hãn Thanh trúng một đòn vào ngực, văng ngược ra sau hơn trượng. Đạm Vân thét lên ảo nảo:
    - Tướng công!
    Nhưng Hãn Thanh đã lồm cồm đứng lên, lau máu nơi khóe miệng, hít một hơi chân khí rồi nói:
    - Xin cốc chủ dạy cho chiêu thứ hai!
    Sáu vị Phán Quan thở phào, mỉm cười tán thưởng. Tề cốc chủ cũng gật gù:
    - Giỏi lắm, hảo hài tử! Chiêu sau sẽ nặng hơn chiêu trước, hãy cố mà chống đỡ!
    Hãn Thanh nghe ngực đau đớn vô cùng, tự biết nếu không có công phu đặc dị gia truyền thì đã gãy xương.
    Chàng cũng vô cùng thán phục, không hiểu vì sao lại trúng đòn! ®o ®nh Chưởng Pháp quả là tuyệt học vô thượng của tà môn!
    Hãn Thanh vẫn tự hào về sở học của ân sư nên cố đem Cửu Cung Thần Thức ra giải phá chiêu thứ hai.
    Tề cốc chủ vẫn ung dung, chẳng hề cấp bách, bủa lưới ma chưởng vây chặt lấy đối phương. Hãn Thanh nhận ra sát khí uy hiếp các đại huyệt từ ngực xuống bụng dưới, liền xuất chiêu Lôi Lục Thu Trì. Thân hình chàng bay vút lên không, song thủ vỗ liền chín thức chưởng.
    Nhưng kỳ lạ thay, lưới chưởng của đối phương mở rộng mãi, không cho chàng thoát ra. Và sau chín lần va chạm, Hãn Thanh nghe bụng đau như bị chùy sắt nện vào.
    Lần này, thân hình chàng văng xa đến hai trượng, rơi xuống mặt cỏ nặng nề như đá. Đạm Vân kinh hoàng, vừa khóc vừa lết đến bên phu tướng, ôm chàng mà nức nở:
    - Tướng công ơi! Chàng chết thì thiếp chẳng sống làm gì?
    Hãn Thanh mở mắt, gượng cười:
    - Ta không sao đâu! Vân muội hãy yên tâm!
    Chàng ngồi lên, nhắm mắt điều thương một lúc rồi đứng dậy:
    - Mong cốc chủ chỉ giáo chiêu thứ ba!
    Tề Phi Tuyết và sáu vị Phán Quan giật mình, không ngờ chàng trai này lại hồi phục nhanh như vậy! Cốc chủ tư lự nói:
    - Lão phu vì quy củ của U Linh Cốc nên chẳng thể nương tay được, chiêu này sẽ xuất toàn lực. Công tử hãy suy nghĩ cho kỹ kẻo uổng mạng!
    Đạm Vân càng khóc lớn, ôm chặt lấy hai chân chàng. Hãn Thanh nghiêm giọng:
    - Vãn bối không sợ chết, chỉ mong sau chiêu này, dù vãn bối sống hay chết, cốc chủ cũng chữa trị đôi chân cho Vân muội!
    Tề Phi Tuyết quay lại nhìn sáu vị Phán Quan. Họ đều gật đầu nên họ Tể ưng thuận:
    - Lão phu nhận lời!
    Hãn Thanh cúi xuống thì thầm với Đạm Vân:
    - Ta đã có cách phá giải ®o ®nh Chưởng Pháp, nàng đừng lo lắng gì cả!
    Đạm Vân nghi hoặc:
    - Tướng công nói thực chứ?
    Chàng gật đầu hôn lên trán mỹ nhân! Đạm Vân buông lỏng tay để Hãn Thanh bước ra đấu trường.
    Tề cốc chủ thở dài xuất chiêu cuối cùng. Lần này chưởng ảnh dệt thành màn sương liền lạc, không còn chút khe hở nào. Chưởng kình rít lên vù vù nghe rất đáng sợ.
    Hãn Thanh không chút chần chừ, lao thẳng vào lưới chưởng ảo ảnh, thân hình chàng như mũi tên nằm ngang, cách mặt đất chừng sải tay, và xoáy tít như chong chóng. Song thủ Hãn Thanh liên tục vỗ ra những chưởng kình vàng nhạt, tập trung vào một điểm duy nhất. Chiêu Cửu Cử Nhất Nguyên này trước đây chàng không đủ công lực để thi triển. Vì gồm có đến tám mươi mốt thức chưởng phách không. Nay đến phút nguy cấp, chàng chợt nhớ ra, liền thi thố để phá chiêu Ma Chưởng của Tề Phi Tuyết.
    Nhờ lực đạo chỉ dồn vào một điểm nên sức công phá vô cùng mãnh liệt, xuyên thủng được màn chưởng ảnh của đối phương. Chưởng kình đập vào cơ thể chàng theo chiều dọc nên bị xoáy tuột đi, lại thêm công phu Thiên Ma Bách Luyện hộ thân nên Hãn Thanh chịu đựng được hết chiêu, tiếp cận mục tiêu. Tề cốc chủ kinh hãi vội cử hữu thủ đón đóa hoa chưởng ảnh màu vàng nhạt kia. Chưởng phong va chạm nổ vang như sấm. Hãn Thanh nghe toàn thân chấn động, khí huyết hỗn loạn và rơi xuống mê man bất tĩnh.
    Lúc chàng mở mắt thì thấy mình nằm dưới một gốc xuân già, đầu gối lên bọc hành lý. Cạnh đấy là con ngựa ô đang gặm cỏ. Hãn Thanh ngơ ngác dụi mắt nhìn quanh chẳng thấy bóng ai và đây cũng không phải là khung cảnh của U Linh Cốc. Tiếng ngựa xe qua lại ngoài kia chứng tỏ chỗ này rất gần đường quan đạo!
    Chàng có cảm giác như vừa mới trải qua một giấc mộng hoang đường.
    Nhưng khi mở bọc hành lý chàng phát hiện một tờ hoa tiên còn thơm mùi son phấn:
    "Tướng công nhã giám! Chàng đã qua được thử thách cuối cùng của U Linh Cốc, giúp thiếp thoát cảnh tàn tật. Đồng thời chàng cũng trở thành Quỷ Hồ Thiếu Tổng Giám, kế vị gia phụ sau này! Tuy nhiên, chúng ta chưa đến hạn kỳ sum họp, nên phải tạm xa nhau! Mong chàng bảo trọng!
    Gia phụ cùng lục vị Phán Quan đã quyết định ban cho chàng khẩu quyết ba chiêu ®o ®nh Chưởng Pháp để phòng thân, chàng hãy cố luyện cho thành công.
    Đạm Vân tái bút!" Hãn Thanh cười khổ, không ngờ đời hiệp khách lại luôn vương vấn tơ duyên với ma quỷ, hồ ly thế này!
    Tự chế nhạo một hồi, chàng học thuộc khẩu quyết ®o ®nh Tam Thức rồi hủy đi. Hãn Thanh lên ngựa, ra đường quan đạo, ngập ngừng không biết mình đang ở đoạn nào, đành nhắm hướng Nam đi thẳng.
    Quả nhiên, ba khắc sau, thành Tinh Châu hiện ra trước mắt. Vầng dương đã lên cao, Hãn Thanh nghe đói bụng, vào thành tìm nơi dùng bữa.
    Lúc đi ngang Tứ Hải Tửu Lâu, bọn tiểu nhị ra tận đường đón chào, Hãn Thanh đành phải dừng cương.
    Chàng lên lầu đẻ hứng ngọn gió xuân mát mẻ và ngắm cảnh vật chung quanh. Trên này đã có hơn trăm hào khách đang chuyện trò rôm rả, nhưng có lẽ vì bộ râu chàng khá rậm nên chẳng ai nhận ra.
    Lúc gã tiểu nhị bưng cơm rượu đến, Hãn Thanh hỏi gã:
    - Hôm nay là ngày mấy?
    Gã cười đáp:
    - Bẩm công tử! Đã là ngày rằm tháng tư rồi!
    Hãn Thanh ngẩn người tự nhủ:
    - Té ra ta đã lưu lại U Linh Cốc bảy ngày. Nhưng sao ta chẳng nhớ gì cả nhỉ?
    Gã tiểu nhị vẫn đứng hầu, cười cầu tài, kể lể:
    - Chắc công tử từ phương xa mới đến! Đất Tinh Châu này vừa xảy ra một chuyện kinh thiên động địa!
    Gã dừng lại để tăng phần hấp dẫn rồi nói tiếp:
    - Số là mấy ngày trước đây, xác người nằm đầy dẫy trên đoạn quan đạo phía Bắc. Chỉ trong vòng trăm dặm mà có đến hơn hai trăm tử thi áo vàng.
    Nghe đâu họ là người của Thần Tiên Giáo gì đấy. Còn hung thủ chính là một cỗ xe song mã. Các thủ lãnh Thần Tiên Giáo đã đích thân chặn đường mà cũng không cản nổi, đành rút hết quân khỏi Tinh Châu!
    Hãn Thanh hỏi lại:
    - Thế ngươi có biết cỗ xe ấy giết người như thế nào không?
    Gã lắc đầu rùng mình:
    - Tiểu nhân nghe đồn là từ trong xe bay ra những bóng ma trắng toát, ai hít phải mùi tử thi ấy là chết ngay!
    Hãn Thanh đoán rằng xe ấy của Đạm Vân có bố trí ống phóng độc khí nhưng không chắc lắm.
    Chàng biết Ngũ Đài Ma Cơ cùng Thương Tâm Kiếm đã về đến Hầu Phủ từ lâu và đang nóng lòng ngóng đợi, nên ăn vội vài chén rồi đi ngay. Đương nhiên, chàng không quên thưởng cho tên tiểu nhị số bạc thừa.
    Chàng quyết định đi đến Bách Thảo Sơn Trang để lấy lại Quái Mã thân yêu, rồi đi đường tắt về Lạc Dương.
    Bảy ngày sau, Hãn Thanh đến chân núi Phúc Sơn vào buổi chiều. Chàng chết lặng người khi thấy Bách Thảo Sơn Trang chỉ còn là một đống hoang tàn đổ nát. Tòa đại sảnh vẫn còn bốc khói, chứng tỏ bị thiêu hủy mới vài ngày.
    Nhưng lạ thay Đà nhi vẫn còn sống và đang bị cột dưới một gốc Đào. Hãn Thanh mừng rỡ thúc ngựa tiến vào, sắp hết đoạn đường rải sỏi chàng vui vẻ huýt sáo gọi Quái Mã. Đà nhi nhận ra chủ nhân, không tỏ vẻ mừng rỡ mà lồng lộn, hí lên những tiếng áo não, thê lương.
    Hãn Thanh gần gũi linh vật suốt mấy năm trường nên hiểu ngay lời cảnh báo. Chàng lập tức ấn vào lưng ngựa, bay thẳng về phía sau.
    Đúng lúc ấy, tuấn mã bước thêm một bước, mặt đường sụp xuống khiến nó rơi vào hố chông, hí lên nảo nuột. Đồng thời cây Đông Thanh bên đường ngã xuống, tàn lá che kín miệng bẫy!
    Đà nhi là thần vật hãn thế, sức mạnh phi thường, đã giật đứt được sợi giây chão, phi như bay về phía Hãn Thanh, trước khi lực lượng mai phục ùa ra.
    Hãn Thanh đứng ngay giữa cổng, ra hiệu cho Đà nhi cứ thoát ra ngoài trước, để chàng đối phó với kẻ thù.
    Hai bên cổng chính là vách tường cao nên vị trí của chàng đang đứng khiến đối phương dù đông cũng không bao vây được.
    Đi đầu toán phục binh chính là Kim Thạch Tà Tẩu Mộc Tiến Luân, Bắc Nhạc Quỷ Trảo và Phó giáo chủ Hứa Hữu Tinh.
    Hãn Thanh xem sinh tử như nhau nên chẳng hể biết sợ hãi, điềm nhiên rút kiếm chờ đợi.
    Tà Tẩu vừa đến nơi đã hầm hầm quát hỏi:
    - Mộ Dung tiểu tử! Phải chăng mi chính là kẻ đã bắt cóc Ngũ Đài Ma Cơ và giết hại con trai của ta?
    Hãn Thanh đáp lững lờ:
    - Nếu ta phủ nhận chỉ sợ lão không tin!
    Bắc Nhạc Quỷ Trảo tiếp lời Tà Tẩu:
    - Bần đạo xin hỏi các hạ có quan hệ gì với ém Dương Đạo?
    Hãn Thanh ngơ ngác nói:
    - Tại hạ không biết họ là ai cả!
    Hà Tu Nghệ biết chàng nói thực nên buột miệng lẩm bẩm:
    - Thế thì sao ém Dương Đạo lại giết chết hơn hai trăm thủ hạ của bổn giáo nhỉ? Chất kỳ độc Vụ Tảo Thiên Quân ấy chỉ có họ mới có mà thôi!
    Hãn Thanh biết ngay lão muốn đề cập đến cỗ xe của Tề Đạm Vân! Như vậy thì U Linh Cốc chính là trọng địa của ém Dương Đạo!
    Hứa Hữu Tinh vuốt râu cười:
    - Có người trông thấy các hạ lên cỗ xe ma ấy. Bổn giáo và ém Dương Đạo có mối quan hệ đặc biệt, không muốn làm sứt mẻ. Mong các hạ hãy nói thực!
    Hãn Thanh không ngờ Thần Tiên Giáo hùng mạnh như thế mà cũng ngán sợ ém Dương Giáo. Chàng mỉm cười hỏi lại:
    - Nếu tại hạ nói mình là người thân của ém Dương Đạo, liệu Mộc lão đầu có chịu bỏ qua mối thù giết con hay không?
    Tà Tẩu rít lên ghê rợn:
    - Dù ngươi có là ai cũng đừng mong thoát chết. Bọn lão phu giết người hủy xác, có trời mới biết được!
    Hãn Thanh bật cười:
    - Lão cứ yên tâm ra tay, ta chẳng biết ém Dương Đạo là tổ chức nào cả!
    Hứa Hữu Tinh vội nhắc nhở:
    - Mộc lão huynh hãy đề phòng Sách Hồn Tiễn của y. Tây Nhạc Lão Quái đã chết vì thứ ám khí ấy đấy!
    Mộc Tiểu Luân cười rộ:
    - Lão phu nào xem chất độc của bọn man mọi ra gì!
    Dứt lời, lão vung kiếm tấn công ngay. Dĩ nhiên, cũng là pho Khổng Tước Kiếm Pháp mà Ngũ Đài Ma Cơ đã từng thi thố, nhưng lợi hại hơn nhiều. Có điều Mộc Tiểu Luân đã bước qua tuổi tám mươi, lại ham mê châu báu, vàng bạc nên xao nhãng kiếm cung. Tuy lão có đến năm mươi năm công lực nhưng bản lãnh còn kém cả Tây Nhạc Lão Quái Hàn thế Đức.
    Hãn Thanh lại vừa mới ăn Hồng Sắc Mãng Xà, công lực rất sung mãn.
    Chàng dỡ pho Nhất Nguyên Kiếm Pháp, liên tiếp ra đòn, dồn đối phương vào thế hạ phong.
    Dẫu vậy, Hãn Thanh vẫn cẩn trọng, chàng đã được Lạc Bình tiết lộ bí mật trong võ công của Tà Tẩu, nên hết sức đề phòng.
    Quả nhiên, Mộc Tiểu Luân bất ngờ quát vang như sấm, khiến Quỷ Trảo và Hứa Hữu Tinh cũng phải rụng rời. Và từ trong tay tả của lão, một luồng độc vụ thơm nồng tỏa ra như đám mây chụp lấy Hãn Thanh.
    Tà Tẩu lập tức lùi nhanh, nở nụ cười đắc ý. Chất độc Tương Tư Tử này cực kỳ lợi hại, chỉ chạm vào da cũng phát sinh tác dụng.
    Ai cũng thấy rõ Hãn Thanh lảo đảo ôm bụng. Nhưng bất ngờ, từ tay tả chàng xạ vào mắt phải của Tà Tẩu. Và thân hình chàng lao đến như ánh chớp kiếm ảnh phủ kín người Tà Tẩu.
    Lão rú lên đau đớn, ngã vật xuống mặt đất, tay hữu đã bị chặt ngay khuỷu, bụng thủng ba lỗ.
    Hãn Thanh trầm giọng:
    - Tại hạ nể mặt Ngũ Đài Ma Cơ nên tha mạng cho lão một phen!
    Quỷ Trảo vội nhảy đến tấn công chàng, còn Hứa Hữu Tinh chăm sóc Kim Thạch Tà Tẩu!
    Không như Mộc lão ma, bản lãnh Bắc Nhạc Quỷ Trảo rất lợi hại, nhờ dầy công rèn luyện. Đôi cánh tay của lão cứng rắn như thép luyện, ngang nhiên va chạm với trường kiếm của Hãn Thanh, và mấy lần đã suýt đoạt được vũ khí của chàng.
    Công lực của Hà Tu Nghệ lại thâm hậu gấp đôi đối phương, khiến thanh Hầu Tước Kiếm run lên bần bật khi va chạm.
    Pho Bắc Thiên Thần Trảo lại vô cùng ảo diệu, công thủ đều kín đáo, khiến Hãn Thanh không sao phá thủng nổi. Chàng phải tận dụng pho Cửu Cung Mê Bộ, lúc ẩn lúc hiện, liên tiếp tung ra những chiêu kỳ ảo mới duy trì được thế quân bình.
    Phép du đấu rất tốn hao chân khí, mồ hôi Hãn Thanh toát ra như tắm, Hà Tu Nghệ vẫn vững vàng như núi Thái, lầm lì xông đến, khiến Hãn Thanh phải lùi dần. Áo của chàng đã bị mười ngón tay sắc như dao kia xé rách tơi tả, nhưng chưa chạm vào da thịt. Những đòn phản công của Quỷ Trảo rất bất ngờ và quỉ dị.
    Hãn Thanh không dám diên trì, vì sợ kiệt lực. Chàng xạ mũi Sách Hồn Tiễn chặn đối phương rồi nhảy lùi ra xa đứng im như pho tượng, miệng mỉm cười.
    Quỷ Trảo xông đến liền bị những mũi phi tiễn nhỏ bé tấn công vào những yếu huyệt. Thủ pháp phóng Sách Hồn Tiễn của Hãn Thanh đã đạt đến mức Hỏa Hầu, ngón tay chỉ máy nhẹ cũng đủ để ám khí bay ra với tốc độ sao băng. Hà Tu Nghệ phải rất vất vả mới né tránh hay gạt ra được.
    Hãn Thanh nghỉ ngơi một thoáng ngắn ngủi nhưng cũng đủ để tái chiến.
    Sự kỳ diệu của tuổi xuân là như thế đấy!
    Bắc Nhạc Quỷ Trảo động nộ gầm vang, song thủ chợt dài ra thêm một gang. Lướt đến như cơn bão, chưởng ảnh trùng trùng điệp điệp. Không biết đâu là hư thực.
    Lão đã chiếm được tiên cơ nên chiêu này công nhiều hơn thủ, sát khí mịt mờ.
    Chiêu công bao giờ cũng lộ nhiều sơ hở và Nhất Nguyên Kiếm Pháp là chuyên gia khai thác nhược điểm ấy, nhưng liệu kiếm của Hãn Thanh có đến được mục tiêu trước song thủ của đối phương hay không?
    Hãn Thanh xem thường sống chết, xuất chiêu Tử Sinh Bất Biệt, lao mình vào lưới trảo. Mũi kiếm của chàng điểm nhanh cố tìm ra khe hở mà đâm vào.
    Nhưng tay hữu của Hà lão quỉ bỗng dài thêm một đoạn, chụp lấy ngực Hãn Thanh. Năm ngón tay sắc nhọn cắm sâu vào da thịt chàng. Ta tả Hà Tu Nghệ khóa chặt lưỡi kiếm. Lão ta vừa phát hiện da thịt đối phương bền chắc phi thường thì đã bị Hãn Thanh vung cước đá vào hạ nang.
    Hà Tu Nghệ văng xa như cánh diều đứt dây, rú lên thảm khốc. Còn lồng ngực trái của Hãn Thanh đã bị bóc đi một lớp thịt dầy.
    Tuy nhiên, phần thắng đã thuộc về chàng! Bắc Nhạc Quỷ Trảo ôm hạ thể lăn lộn, kêu lên những tiếng não lòng.
    Hãn Thanh khá hơn một chút nhưng đã thọ thương trầm trọng. Trảo kình công phá đến tâm mạch, khiến chàng đau đớn, hơi thở nẳng nề.
    Hứa Hữu Tinh lạnh lùng bước đến, cười lạnh nói:
    - Mộ Dung tiểu cẩu! Phen này ngươi đừng hòng sống sót!
    Hãn Thanh nhìn lão họ Hứa và số người đông đảo đang khép chặt vòng vây, biết mạng mình đã tuyệt.
    Chàng mỉm cười khô héo, dồn hết toàn lực vào tay hữu đợi chờ. Dù đã điểm huyệt chỉ huyết, nhưng vì vết thương quá lớn nên máu vẫn tuôn dầm dề.
    Hứa Hữu Tinh xử dụng một thanh loan đao, thủ hạ của lão cũng vậy! Lão ma thấy bộ dạng tiều tụy của đối phương, tin rằng sẽ đắc thắng. Lão nhếch mép cười hiểm độc, vung đao tấn công.
    Đao chiêu mãnh liệt và ảo diệu vô song, cuốn đến như bão tố. Hãn Thanh vẫn đứng im, đưa kiếm điểm nhanh chống đỡ.
    Đôi mắt chàng sáng rực tinh thần bất khuất, vô úy, điềm nhiên chống đỡ. Trong giây phút hiểm nghèo này mới thấy được tính thần diệu của Nhất Nguyên Kiếm Pháp! Hãn Thanh tuy kiệt sức nhưng vẫn chống trả kiên cường bằng những chiêu thức tinh kỳ!
    Thói thường, khi gác ngoài tai sự sống chết, con người lại kiên dũng phi thường. Hãn Thanh lại được chân truyền của Bất Biệt Cư Sĩ nên kiếm thuật bác tạp, bao la như biển. Chàng không giết được người nhưng vẫn bảo vệ được mình. Có điều, máu từ vết thương tuôn chảy, mang theo sức lực của bậc anh hào. Đường kiếm của Hãn Thanh dần mất đi sự linh hoạt và chàng sắp đi vào tử địa.
    Nhưng bất ngờ thay, từ trên đầu tường xuất hiện những bóng ma áo trắng. Họ bay chập chờn như không có trọng lượng, lướt trên đầu bọn giáo chúng Thần Tiên. Những bóng trắng kia lướt đến đâu thì phe đối phương đều gục ngã, chẳng một tiếng than van.
    Riêng Phó giáo chủ Thần Tiên Giáo Hứa Hữu Tinh lại được chăm sóc nồng hậu hơn bởi hai bóng ma. Quái phong từ bàn tay họ giáng xuống như sấm sét. Dù đã đề phòng nhưng họ Hứa vẫn trúng đòn, khóe miệng rỉ máu.
    Hứa Hữu Tinh khôn hồn đào tẩu ngay, chẳng nghĩ gì đến đồng đảng nữa!
    Chưa đầy nửa khắc, chẳng còn ai sống sót cả, trừ Hãn Thanh. Các bóng ma biến mất để lại mình chàng ngơ ngẩn.
    Hãn Thanh xé áo băng chặt vùng thương tích, rồi tiến thẳng vào phía Bách Thảo Sơn Trang. Chàng nén đau cao giọng gọi:
    - Tại hạ là Mộ Dung Hãn Thanh đây! Có ai còn sống không?
    Nói xong, chàng định thần lắng nghe. Bỗng nhiên có tièng người văng vẳng vọng lại:
    - Lão phu là Bạch Nguyên Giáp đây! Dưới cây hòe mé trái đại sảnh có hầm ngầm!
    Hãn Thanh từng nghe Bạch Thần Y khoe khoang vể hệ thống mật thất trong Bách Thảo Sơn Trang, nên mới hy vọng lão còn sống! Nay nghe phúc đáp, chàng mừng rỡ chạy đến gốc hòe lục soát.
    Cây hòe này có lẽ đã hơn trăm tuổi nên thân to cỡ bốn người ôm. Hãn Thanh nghe tiếng của Thiết Địch Thần Y từ trên ngọn cây vọng xuống, lièn bám theo cành mà lên. Thì ra thân cây rỗng ruột, có thang tre để đi xuống.
    Hãn Thanh lần từng nấc, cuối cùng lọt vào một bí thất.
    Thiết Địch Thần Y Bạch Nguyên Giáp đang nằm trên đất, thều thào nói:
    - Lão phu bị Thần Tiên Giáo giam hãm đã bốn ngày không ăn uống, tưởng mạng không còn, nào ngờ công tử lại đến kịp.
    Hãn Thanh vội bồng lão ra ngoài. Bạch Thần Y nhìn thấy hàng trăm xác áo vàng nằm la liệt, bỡ ngỡ hỏi:
    - Chẳng lẽ mình công tử mà giết sạch bọn họ?
    Hãn Thanh không đáp, cúi xuống nhặt một túi da đựng nước trên thi thể của một gã hoàng y, cho Bạch Thần Y uống!
    Cuối tháng tư, một con ngựa có chiếc đầu lạc đà dừng cương trước Mộ Dung Hầu Phủ.
    Bọn môn nhân gác cổng rú lên mừng rỡ, mau mắn mở rộng đại môn đón Tiểu Hầu Gia!
    Ngoài Hãn Thanh, trên lưng Quái Mã còn có một lão nhân nữa, đó là Thiết Địch Thần Y Bạch Nguyên Giáp, lão đã gom góp tài sản về sống với Hãn Thanh, vì cơ ngơi cháy rụi và đệ tử chết sạch bởi bàn tay Thần Tiên Giáo.
    Một gã gia nhân đã mau mắn chạy vào báo tin, nên lão Hầu Gia xuất hiện ngay.
    Hãn Thanh vội quỳ xuống thềm sảnh bái kiến:
    - Tiểu tôn khiến nội tổ phải lo lắng, tội đáng đánh đòn!
    Mộ Dung Cẩn cười ha hả, đỡ chàng lên xiết chặt vào lòng:
    - Không sao! Cháu còn sống là tốt lắm rồi!
    Hãn Thanh nhận ra dòng lệ từ mắt lão chảy xuống cổ mình, lòng vô cùng cảm động!
    Bỗng có tiếng nữ nhân sụt sùi:

  3. #22
    Join Date
    Sep 2010
    Bài Viết
    51,725
    Thanks
    1
    Được Cám Ơn 26 Lần
    Trong 26 Bài Viết
    - Nô tỳ mừng được gặp lại công tử.
    Đây chính là giọng của Ngũ Đài Ma Cơ! Nhưng lại có tiếng ai trong trẻo:
    - Nô tỳ bái kiến Tiểu Hầu Gia!
    Hãn Thanh giật mình quay lại, thì ra là Viên Nguyệt Hằng Nga Hà Hồng Hương!
    Chàng cau mày hỏi:
    - Vì sao tiểu thư lại xưng hô như vậy?
    Lão Hầu Gia cười vang:
    - Thanh nhi! Sau khi mi đi được ít lâu thì Tinh Châu Tài Thần Hà Hồng Tập cho ái nữ đến Hầu Phủ để hầu hạ ta, để báo đáp ơn cứu mạng của mẫu thân ngươi ngày xưa! Lão phu từ chối mãi mà không được!
    Hãn Thanh hiểu ngay Nhất Bất Thông đã bày kế này. Chàng mỉm cười bảo:
    - Hai nàng đứng lên đi!
    Hãn Thanh bước đến xiết chặc Thương Tâm Kiếm. Nãy giờ gã vẫn đứng lặng lẽ sau lưng lão Hầu Gia, nhìn chàng bằng ánh mắt ấm áp. én Khiếu Hồ thì thầm:
    Tại hạ tưởng kiếp này không còn có ai là bằng hữu nữa! Câu nói tuy đơn giản nhưng chan chứa nghĩa tình. Hãn Thanh bóp chặt bàn tay gã nói:
    - Tiểu đệ cũng vậy!
    Chàng quay lại giới thiệu Bạch Nguyên Giáp với mọi người. Lão Hầu Gia hoan hỉ bảo:
    - Bạch lão đệ cứ xem đây là nhà mình. Lão phu rất mừng vì có người bầu bạn!
    Mộ Dung Cẩn hối thúc hai người vào tắm gội và quát gia nhân chuẩn bị yến tiệc tẩy trần!
    Lạc Bình và Hà Hồng Hương e lệ đưa Hãn Thanh vào hậu viện. Lúc chàng cởi áo, họ rú lên khi thấy ngực chàng quấn đầy băng. Ngũ Đài Ma Cơ sa lệ hỏi:
    - Phải chăng công tử đã gặp cường địch?
    Hãn Thanh thở dài:
    - Bọn Thần Tiên Giáo phá hủy Bách Thảo Sơn Trang và gài bẫy chờ ta trở lại lấy ngựa. Có đến ba đại cao thủ là Quỷ Trảo, Tà Tầu và Phó giáo chủ Hứa Hữu Tinh. Ta xin lổi vì đã chặt tay và hủy một mắt của lệnh sư!
    Lạc Bình buồn rầu đáp:
    - Gia sư đã giết chết nhũ nương của nô tỳ, xem như không còn tình nghĩa sư đồ nữa! Công tử bất chấp phải áy náy!
    Hãn Thanh cúi xuống hôn lên trán Ma Cơ, mắt liếc nhìn Viên Nguyệt Hằng Nga để xem thái độ.
    Nãy giờ Hà Hồng Hương vẫn nhẫn nhục đứng im, hai tay bối rối hành hạ gấu áo, mắt long lanh như sắp khóc. Một nàng thiên kim tiểu thư tính tình ngang ngạnh, nay trở nên hiền thục như vậy, quả là kỳ lạ. Điều ấy nói lên tình yêu của nàng dành cho Hãn Thanh to lớn đến dường nào!
    Lạc Bình hiểu rất rõ tâm tình thầm kín của Hồng Hương, vì hai người đã thân thiết như chị em. Nhưng vị trí của Ma Cơ cũng chỉ là một nô tỳ, sao có thể nói dùm cho Viên Nguyệt Hằng Nga?
    Hãn Thanh nghiêm giọng hỏi Hồng Hương:
    - Lệnh đường có tán thành việc cô nương đến làm nô tỳ cho Hầu Phủ hay không?
    Dù câu nói chẳng thân tình chút nào, nhưng cũng đủ cứu vớt Hồng Hương thoát khỏi tình trạng bị bỏ rơi. Nàng ấp úng đáp:
    - Bẩm công tử! Gia mẫu đã biết lỗi nên không phản đối việc này.
    Hãn Thanh gật gù:
    - Hay lắm, lão Hầu Gia đã già, cũng cẩn có một tỳ nữ nhanh nhẩu linh hoạt như nàng. Ta rất biết ơn tấm lòng của nàng và phu thê Hà trang chủ!
    Hà Hồng Hương chết điếng người, lắp bắp nói:
    - Nhưng tiểu muội muốn được hầu hạ đại ca!
    Nàng bối rối đến rơi nước mắt nên xưng hô như ngày nào!
    Lạc Bình đánh bạo nói đỡ cho Hồng Hương:
    - Công tử! Nô tỳ và Hương muội đã kết nghĩa chị em, xin được cùng hầu hạ công tử.
    Hãn Thanh cười mát:
    - Lạ thực! Hai nàng đều muốn làm dâu họ Mộ Dung mà lại từ chối bổn phận chăm sóc lão Hầu Gia, ta thực không hiểu nổi!
    Câu nói của chàng như tiếng sấm giữa trời xuân, khiến cả hai nàng ngơ ngác!
    Hãn Thanh bước đến, kéo cả hai vào vòng tay rộng rồi nói tiếp:
    - Ta có nhiều thê thiếp này tất hương hồn của tiên mẫu sẽ không vui!
    Hai nàng đã hiểu ra, bật khóc vì sung sướng. Hà Hồng Hương muốn chứng tỏ mình đã khác xưa, vui vẻ nói:
    - Tiểu muội và Bình tỷ yêu thương nhau như chị em ruột, không hề ghen hờn để chàng phải bận tâm đâu!
    Hãn Thanh mỉm cười:
    - Nhưng ta còn hai người vợ khác nữa, Hương muội tính sao?
    Hồng Hương ngẩn người một lúc mới đáp:
    - Hai hay bốn cũng thế thôi, hà tất phải đố kỵ để gia sự rối ren?
    Hãn Thanh hài lòng, hôn lên má nàng khiến mỹ nhân sung sướng ngất ngây!
    Tắm gội xong, Hãn Thanh tìm đến thư phòng để thưa chuyện với nội tổ.
    Chàng chưa kịp nói thì Mộ Dung Cẩn đã phán:
    - Thanh nhi! Lão phu thấy cả hai con bé đều xinh đẹp như tiên, xứng đáng làm dâu họ Mộ Dung. Ngươi thấy thế nào?
    Hãn Thanh kính cẩn hỏi lại:
    - Chẳng lẽ nội tổ không xem trọng việc môn đăng hộ đối?
    Lão Hầu Gia cười xòa:
    - Ta nào phải kẻ thiển cận, hủ lậu như thế! Do phụ thân ngươi thành danh quá sớm nên mới lụy vì danh thôi! Mẫu thân ngươi biết gã câu nệ nên mới phải dấu giếm lai lịch đưa đến thảm kịch. Phần ngươi, gia gia cho phép tự do quyết định việc hôn nhân!
    Hãn Thanh cười khổ:
    - Nhưng tiểu tôn còn có thêm hai người vợ khác thường nữa! Một là ma, còn nàng kia là chồn tinh, gia gia có chấp nhận được hay không?
    Mộ Dung Cẩn giật mình:
    - Thanh nhi không đùa đấy chứ? Ta đã sống hơn tám mươi năm mà nào thấy ma quỉ, hồ ly gì đâu?
    Hãn Thanh chính sắc đáp:
    - Tiểu tôn cũng nghi họ là người, nhưng không dám đoan chắc nên đành phải xem là ma quỉ! Xin nội tổ dạy bảo!
    Mộ Dung Cần vuốt râu suy nghĩ, lát sau mỉm cười:
    - Thanh nhi tưởng chỉ có mình lệnh sư thấu hiểu được phép Bất Diệt hay sao? Lão phu dám tự hào đạo hạnh không thua gì Cao Hán Ngọc!
    Hãn Thanh mừng rỡ vòng tay vái tạ:
    - Gia gia quả là bậc chân nhân thông đạt, khiến tiểu tôn cất được gánh nặng trong lòng.
    Mộ Dung Cẩn cười khà khà:
    - Lão phu chỉ mong ngươi sớm cho ra vài đứa tiểu hài, để già này có chắt ẳm bồng thôi!
    Hãn Thanh ngượng ngùng gật đầu, cùng nội tổ ra khách sảnh, vì yến tiệc đã dọn xong!
    Chiều hôm ấy, Nhất Bất Thông Chu Minh về đến. Cả nhà quây quần bên mâm cơm, nghe Hãn Thanh kể lại cuộc tình kỳ lạ của chàng với Trịnh Tiểu Thuần và Tề Đạm Vân!
    Nghe xong, lão Hầu Gia cười khà khà:
    - Chu Minh! Ngươi tự hào cái gì cũng biết, sao không thử kiến giải việc này xem?
    Nhất Bất Thông thản nhiên đáp:
    - Vãn bối chỉ thông thạo việc của người sống chứ không biết việc của quỷ thần. Danh hiệu Nhất Bất Thông đã chỉ rõ điều ấy! Trịnh cô nương kia là ma hay người thì chẳng biết, nhưng Tề Đạm Vân chắc chắn không phải là chồn!
    Lão khề khà nhấp hớp rượu, khiến Hồng Hương nóng ruột:
    - Nhị thúc nói ngay đi!
    Từ lúc được Hãn Thanh nhận làm vợ, nàng đã vui vẻ, lanh lợi như xưa.
    Nhưng tất nhiên đối với phu tướng vẫn một lòng nhũn nhặn.
    Ngay trong buổi yến tiệc buổi trưa, lão Hầu Gia đã nhận cháu dâu, và hai nàng trở thành thiếu phu nhân Hầu Phủ!
    Chu Minh khệnh khạng kể tiếp:
    - ém Dương Dạo là một chi phái của Thiên Sư Giáo, giáo đồ tự xem mình là chồn, quỷ chứ không phải là người. Họ ít khi xuất hiện giang hồ, chỉ chuyên tâm tu luyện để thành tiên, vì vậy thành tựu võ công rất cao. Pho khinh công ®o ®nh thân pháp của ém Dương Đạo nhanh nhẹn và kỳ ảo vượt ngoài sức tưởng tượng của con người. Lại còn thêm chất độc Vụ Tảo Thiên Quân giết người trong nháy mắt, khiến ai cũng phải sợ hãi. Cũng may Tiểu Hầu Gia đã trở thành rể của ém Dương Đạo, nếu không, Thần Tiên Giáo mà lôi kéo được họ thì võ lâm sẽ trở thành biển máu!
    Thiết Địch Thần Y thở dài:
    - Lão phu cũng biết chút ít về nội tình ém Dương Đạo. Y thuật của họ rất đáng khâm phục, nhất là nghể giải phẩu. Dẫu tứ chi bị cắt rời, họ cũng có thể nối lại dễ dàng. Nhưng ém Dương Đạo cũng có một nhược điểm, đó là Băng Hỏa Quả ở ém Dương Linh Cảnh. Họ tin rằng nếu có được kỳ trân ấy sẽ luyện thành tiên đan, uống vào liền bạch nhật phi thăng. Thần Tiên Giáo nắm được điều ấy nến cố bắt lão phu để biết đường vào Linh Cảnh. Khi lấy được Băng Hỏa Quả, họ sẽ mua chuộc được ém Dương Đạo rất dễ dàng!
    Thương Tâm Kiếm thắc mắc:
    - Biết đâu Hải Hà Tiên Tử không chiếm lấy Bạch Hỏa Quả mà thụ hưởng.
    Lúc ấy bà ta trở thành vô địch thiên hạ, còn sợ gì ai nữa?
    Bạch Thần Y mỉm cười:
    - én hiền điệt không biết đấy thôi! Người trên sáu mươi tuổi chỉ cần ăn một phần tám quả cũng sẽ vỡ mạch máu chết ngay! Chỉ có cơ thể thanh xuân mới chịu đựng được dược lực mãnh liệt kia!
    Ngũ Đài Ma Cơ ngượng ngùng cất tiếng:
    - Vậy thì tướng công mau đến ém Dương Linh Cảnh để hái Bạch Hỏa Quả trước khi Thần Tiên Giáo tìm ra!
    Hãn Thanh mỉm cười:
    - Lỡ ăn vào ta thành tiên thì hai nàng ở với ai?
    Cả nhà bật cười vui vẻ. Hãn Thanh lại nói:
    - Bạch lão bá! Tiểu điệt sẽ trở lại U Linh Cốc, báo cho ém Dương Đạo biết vị trí của ém Dương Linh Cảnh. Đó là cách tốt nhất để ngăn ngừa hậu hoạn.
    Chu Minh ngạc nhiên:
    - Sao Thanh nhi lại bỏ qua một vật báu hãn thế như vậy?
    Chàng điềm nhiên đáp:
    - Nhị thúc thử nghĩ xem! Tiểu điệt dù có tăng thêm bốn mươi năm công lực cũng không thể địch lại sự liên thủ của bốn lão ma đầu. Hơn nữa, ém Dương Đạo sẽ vì việc này mà sinh lòng oán hận, hậu quả khó lường.
    Lão Hầu Gia hài lòng khen phải. Mọi người cũng tán thành cao kiến của chàng!
    Nhất Bất Thông nhớ ra một việc:
    - Thanh nhi! Hôm ấy ngươi đả thương Bắc Nhạc Quỷ Trảo và Kim Thạch Tà Tẩu, nhưng liệu ém Dương Đạo có tha cho họ không?
    Hãn Thanh gật đầu:
    - Lúc rời Bách Thảo Sơn Trang, tiểu điệt không thấy xác hai người ấy!
    Chu Minh cân nhắc:
    - Nếu vậy thì lực lượng đầu não của Thần Tiên Giáo còn rất hùng hậu.
    Thanh nhi phải mau chóng liên hệ với U Linh Cốc để tranh thủ họ. Ta sẽ cải trang đến dự khai đàn của Thần Tiên Giáo để xem tình hình ra sao?
    Viên Nguyệt Hằng Nga nũng nịu:
    - Chẳng lẽ tướng công mới về đã đi ngay?
    Hãn Thanh mỉm cười:
    - Ta tin rằng người của ém Dương Đạo lúc nào cũng quanh quẩn để bảo vệ rể quý. Vì vậy, đêm nay ra sẽ gọi họ vào mà báo tin!
    Canh hai đêm ấyn Hãn Thanh ra sau vườn vận công gọi vang:
    - Thủ hạ U Linh Cốc mau xuất hiện, ta là Mộ Dung Hãn Thanh có chuyện này cần bàn!
    Quả nhiên, từ trên tàn cây cao vút có bóng trắng rơi xuống nhẹ nhàng như lá rụng. Khinh công kia khiến Hãn Thanh khâm phục sát đất.
    Người ấy là một lão già đầu hói, mũi lân, miệng rộng, ánh mắt ranh mãnh. Hãn Thanh nhận ra lão là một trong sáu vị Phán Quan liền cung kính vòng tay:
    - Không ngờ bậc trưởng bối lại đi theo chiếu cố, tiểu tế vô cùng cảm kích, xin Phán Quan cho biết đại danh?
    Lão bèn cười hề hề:
    - Lão phu là Lục Phán Quan Khuất Quỳ. Công tử cứ gọi là Lục thúc là được rồi! Phải chăng công tử cần người đối ẩm nên cho gọi già này?
    Hãn Thanh biết ngay lão già vui tính này đang thèm rượu, chàng cười đáp:
    - Quả đúng vậy! Kính thỉnh Lục thúc dời gót vào trong!
    Khuất Qùy tươi tỉnh hẵn lên, bưới đi ngay. Hậu viện ngăn cách với tiền sảnh bằng một vườn hoa nhỏ, giữa có tòa tiểu đình bát giác không vách, bốn góc treo đèn lồng rất sáng sủa. Đây quả là nơi nhâm nhi rất thích.
    Trên chiếc bàn bát tiên đã có sẵn dăm món nhắm và vò rượu lâu năm.
    Lạc Bình, Hồng Hương đang sắp xếp chén đũa, gật đầu chào khách.
    Hãn Thanh nghiêm giọng giới thiệu:
    - Hai nàng hãy thi đại lễ vì đây là Lục thúc của Tề Đạm Vân!
    Cả hai vội nghiêng mình:
    - Tiện nữ bái kiến Lục thúc!
    Khuất Qùy xua tay lia lịa:
    - Lão phu không ưa tục lễ rườm rà, cứ đem thật nhiều rượu là xong!
    Hãn Thanh cố nín cười, giới thiệu hai nàng:
    - Bẩm Lục thúc, đây là Lạc Bình và Hà Hồng Hương, chuyết thê của tiểu điệt!
    Họ Khuất gật gù:
    - Công tử giỏi lắm, lấy được toàn vợ đẹp như tiên.
    Hai nàng được khen, bất giác có cảm tình với Lục Phán Quan, hớn hở rót rượu và gắp thức ăn.
    Tửu lượng của Khuất Qùy thật khủng khiếp, lão uống một hơi mười bát lớn mà vẫn tỉnh bơ. Thấy Hãn Thanh tận tình cạn theo, Lục Phán Quan rất hài lòng:
    - Công tử quả là kẻ biết điều, không uổng công lão phu cực khổ mấy ngày nay!
    Hãn Thanh bỗng nhớ ra:
    - Dám hỏi Lục Phán Quan mang theo bao nhiêu thủ hạ và họ đâu cả rồi?
    Khuất Qùy cười đáp:
    - Cốc chủ bảo ta mang theo mười tám gã Hồ Tốt để bảo vệ công tử.
    Chúng đang nằm cả ở trên cây ngoài vườn sau!
    Hãn Thanh áy náy:
    - Từ nay Lục thúc và anh em cứ vào phủ mà ăn ở cho thoải mái đừng tiếp tục chịu cảnh gió sương nữa!
    Lục Phán Quan tinh quái nháy mắt rồi hạ giọng mỉa mai:
    - Như thế thì đâu giống ma quỷ, chồn tinh? Cốc chủ mà biết được sẽ trách phạt bọn ta đấy!
    Chàng cười bảo:
    - Sau này, Lục thúc cứ báo với gia nhạc phụ rằng Thanh này đã biết rõ lai lịch của ém Dương Đạo, chư vị không cần dấu giếm nữa!
    Chàng quay sang bảo Hồng Hương:
    - Hương muội mau truyền lệnh dọn tiệc rượu cho mười tám người ở khách sảnh!
    Viên Nguyệt Hằng Nga dạ rất ngoan, mở cửa bước đi ngay.
    Trong Hầu Phũ lúc nào cũng có sẵn thức ăn, chỉ hơn khắc đã bày xong tiệc. Hồng Hương trở lại báo cáo phu tướng. Hãn Thanh bảo Khuất Quỳ:
    - Phiền Lục thúc gọi dùm anh em vào!
    Họ Khuất trở ra vườn, lát sau quay lại với đám Hồ Tốt. Những người này đều đã ở tuổi tứ tuần, dung mạo chất phác, hiền lành. Họ sụp xuống thi đại lễ:
    - Chúng Hồ Tốt bái kiến Thiếu Tổng Giám!
    Hãn Thanh bảo họ đứng lên, rồi dặn dò:
    - Ta đã cho bày bữa tiệc mọn trên khách sảnh, mong các vị chiếu cố cho.
    Kể từ nay các vị cứ vào Hầu Phủ mà nghĩ ngơi, không cần phải ẩn nấp nữa!
    Cả bọn hân hoan cảm tạ, đi theo Hồng Hương lên nhà trên, Lục Phán Quan vui vẻ nói:
    - Thực ra công tử có điều gì muốn nói với lão phu?
    Hãn Thanh hỏi lại:
    - Phải chăng ém Dương Đạo rất khao khát có được Bạch Hỏa Quả ở ém Dương Linh Cảnh?
    Khuất Qùy giật mình:
    - Đúng vậy! Hải Hà Tiên Tử, giáo chủ Thần Tiên Giáo đã hứa sẽ tặng kỳ trân ấy cho Tổng Giám! Nhưng sao công tử lại hỏi đến việc ấy?
    Hãn Thanh mỉm cười:
    - Tiểu điệt may mắn biết được tọa lạc của ém Dương Linh Cảnh, muốn báo lại để chư vị đến đấy!
    Lục Phán Quan hoan hỉ phi thường:
    - Tuyệt diệu thật! Công tử mau nói cho lão phu nghe thử!
    Hãn Thanh chậm rãi đáp:
    - Ở vùng giáp giới giữa Thiểm Bắc và Nội Mông có dãy núi Hồ Sơn gồm bốn đỉnh. ém Dương Linh Cảnh nằm sâu trong lòng ngọn núi hướng chính Bắc. Nơi này quanh năm phủ tuyết. Nhưng Hồ Sơn lại là Hỏa Diệm Sơn còn âm ỉ, vì thế mới sản sinh được Bạch Hỏa Quả!
    Chàng nói rõ đường đi nước bước cho Lục Phán Quan nghe. Lão vui mừng đến nỗi không ăn uống được nữa, cáo từ đi ngay về U Linh Cốc!
    Mười tám gã Hồ Tốt ở lại và trở thành môn nhân nhà Mộ Dung. Bao năm sống khổ hạnh trong U Linh Cốc, giờ được ấm no, họ vô cùng biết ơn Hãn Thanh. Tiểu Hầu Gia không đi Tung Sơn dự lễ khai đàn của Thần Tiên Giáo.
    Trưa ngày sáu tháng năm, Nhất Bất Thông trở về, sắc diện u ám, nặng nề.
    Lão thở dài kể:
    - Hải Hà Tiên Tử đã được Thần Y của ém Dương Đạo nối lại bàn tay cụt, dung mạo độ đôi mươi và diễm lệ phi phàm. Ánh mắt và nụ cười của bà ta khiến lão già tám mươi cũng phải xao xuyến. Chính vì thế mà Tiên Tử cũng đã lôi kéo được thêm lão quái vật Quang Minh Tôn Giả Khúc Tú Sơn về làm Tổng Hộ Giáo! Lão quỷ này đã chính mươi tuổi, bản lãnh cao siêu khôn lường, có thể ngang với Hải Hà Tiên Tử!
    Hãn Thanh lại chú ý đến việc khác:
    - Nhị thúc! Chẳng hay Lãng Đãng Hồng Nhan Chúc Tây Sương và gia nghĩa phụ Nhất Tà có mặt ở đấy không?
    Chu Minh gật đầu:
    - Có! Nam Nhạc Nhất Tà vẫn mang mặt nạ Hoạt Tử Nhân như trước, ngồi cạnh Chúc Tây Sương!
    Hãn Thanh gật gù:
    - Hay lắm! Để tiểu điệt đi Tứ Xuyên đón Trịnh Tiểu Thuần xong sẽ đến Tung Sơn hỏi tội Chúc Tây Sương!
    Hai mỹ nhân nhao nhao đòi đi theo nhưng Hãn Thanh không cho:
    - Đường xa ngàn dặm, sức nữ nhân không chịu nổi đâu! Hơn nữa, sự có mặt của hai nàng sẽ khiến ta khó ăn nói với Tiểu Thuần!
    Họ đành cam chịu nhưng giữ Hãn Thanh ở lại đến cuối tháng năm mới cho khởi hành!
    Trong thời gian này, Hãn Thanh khổ luyện ba chiêu ®o ®nh chưởng pháp. Nhờ đã nhìn thầy U Linh Cốc chủ Tề Phi Tuyết thi triển nên chàng thành tựu dễ dàng!

  4. #23
    Join Date
    Sep 2010
    Bài Viết
    51,725
    Thanks
    1
    Được Cám Ơn 26 Lần
    Trong 26 Bài Viết
    Hồi 9

    Tà Tẩu Mạng Bất Toàn
    Tôn Giả Thi Quỷ Kế

    Thương Tâm Kiếm én Khiếu Hồ đã về Thiểm Bắc thăm sư phụ hồi giữa tháng nên không có mặt trong tiệc tống hành Hãn Thanh.
    Sau khi nhận chức Phó giáo chủ Thần Tiên Giáo, Hứa Hữu Tinh đã đưa phần lớn lực lượng Tây Bang đến Tung Sơn, chỉ lưu lại Trường An một số ít thủ hạ. Vì vậy, Hãn Thanh đã từ chối khi lão Hầu Gia bảo chàng mang theo môn nhân. Chàng vui vẻ nói:
    - Tiểu tôn đi lần này cốt để đón người, nếu gặp cường địch thì bỏ chạy chứ không chống cự. Với cước lực của Đà nhi, chẳng ai theo kịp đâu mà gia gia phải lo lắng.
    Mộ Dung Cẩn đành chịu thua, không ép buộc nữa. Nhất Bất Thông Chu Minh uống cạn chung rượu rồi tư lự bảo:
    - Thanh nhi! Lão phu suy nghĩ rất nhiều vể thân phận bí ẩn của Trịnh Tiểu Thuần. Số là nước Dạ Lang đã bị Hán Võ Đế chinh phục cách nay hơn ngàn năm, chỉ còn lại bộ tộc Dạ Lang mà thôi! Bộ tộc này hiện đang cư trú ở vùng Tây Bắc Qúi Châu. Như vậy, có thể Tiểu Thuần chính là cô con gái của một tù trưởng nào đấy! Lần này Thanh nhi đi Tứ Xuyên, nếu không gặp được Trịnh cô nương thì hãy đến Qúi Châu điều tra thử xem sao!
    Hãn Thanh lấy làm lạ:
    - Vì sao bá phụ lại sợ rằng tiểu điệt sẽ không tìm được Tiểu Thuần?
    Chu Minh thở dài:
    - Quỷ Môn Quan trên đất Phong Đô chỉ là truyền thuyềt chứ không xác định ở địa điểm nào cả. Ta e rằng Thanh nhi chỉ hoài công thôi!
    Hãn Thanh rất tin yêu Tiểu Thuần nên vui vẻ đáp:
    - Dù Quỷ Môn Quan không có thực, nhưng chắc chắn Trịnh tỷ sẽ xuất hiện khi tiểu điệt đến Phong Châu!
    Thiết Địch Thần Y Bạch Nguyên Giáp bỗng nói:
    - Lão phu quan sát thấy mấy hôm nay quái mã Đà nhi có hiện tượng động dục, chắc là đã đến mùa giao phối của linh vật! Vì vậy, Thanh nhi hãy để Đà nhi lại. Lão phu sẽ tìm cách gây giống, lưu truyền dòng dõi của thần vật!
    Lạc Bình và Hà Hồng Hương vẫn chưa kinh qua ân ái nên đỏ mặt thẹn thùng. Chu Minh nhân dịp này nói ngay:
    - Hiện nay Thanh nhi là đối tượng truy sát của Thần Tiên Giáo, chớ nên sính cường mà khiến bao người đau khổ. Lão phu muốn ngươi cải trang rồi hãy lên đường.
    Mọi người đều khen phải, khiến Hãn Thanh không thể chối từ.
    Canh tư ngày hai mươi chín tháng năm. Hãn Thanh mang mặt nạ, âm thầm rời Hầu Phủ, theo đúng kế hoạch của Nhất Bất Thông. Một con tuấn mã đã chờ chàng ở ngoài cửa Tây thành.
    Khi trời hửng sáng, Hãn Thanh đã rời Lạc Dương được năm chục dặm.
    Giờ đây, chàng mang dung mạo của một hán tử tứ tuần hiên ngang, râu mép xanh rì, khó ai có thể nhận ra được người này chính là Tiểu Hầu Gia.
    Tuy Hãn Thanh không nói ra nhưng chàng cũng hài lòng với lớp hóa trang. Trong bọc hành lý để lại Kim Thạch Sơn Trang Ngũ Đài Sơn có cả tấm áo choàng ghi lời hò hẹn của Tiểu Thuần. Chàng tin rằng Tà Tẩu đã tìm thấy, và cuộc hội ngộ ngày rằm tháng bảy với Tiểu Thuần đã bị tiết lộ.
    Dung mạo giả sẽ giúp chàng thoát được mai phục của Thần Tiên Giáo, sớm hội ngộ với ái thê. Trong lúc này, đấy là việc quan trọng nhất đời chàng.
    Thời gian còn khá dư giả, Hãn Thanh ung dung hòa vào dòng người trên quan đạo mà dong ruổi, bảy ngày sau đã đến Trường An. Lúc đi qua cửa Đông thành, chàng phát hiện có khá nhiều đôi mắt cú diều đang chăm chú quan sát như muốn tìm ai đó. Có lẽ họ là thủ hạ của Thần Tiên Giáo, nhưng đối phương chẳng ngờ chàng lại đi có một mình và không mang theo quái mã.
    Thời buổi loạn lạc, bách tính đua nhau học võ để tự phòng thân. Do vậy, người mang đao kiếm rất nhiều. Hãn Thanh thản nhiên đủng đỉnh vào thành, tìm đến Tây Kinh Đại Tửu Lâu. Dù trong túi chàng có đến hai chục viên Tịnh Cốc Toàn Sinh Hoàn, nhưng chỉ để dành cho lúc quẫn bách. Dẫu sao, chúng chẳng thể ngon lành, đầy hương vị như những món ăn bình thường.
    Trường An nằm ở bờ Nam sông Vị Thủy, có hình chữ nhật, một cạnh dài hai chục dặm, cạnh kia mười tám dặm. Trường An được chia làm ba phần:
    phía Bắc là Cố Cung của nhà Đường và khu thành nội. Phía Nam là khu vực của bách tính, có mười một đại lộ từ Đông qua Tây và mười bốn đại lộ Bắc Nam, tất cả đều thẳng góc với nhau, chia thành một trăm linh tám xóm.
    Tòa Tây Kinh Đại Tửu Lâu nằm trên một giao lộ lớn, chung quanh đều là cửa hiệu, lâu quán. Riêng tửu điếm, cũng đã có đến ba nơi, chính vì thế bọn tiểu nhị ra đến tận đường đón khách. Chúng khom lưng cơ hồ sát đất, miệng trơn tru như bôi mỡ, khiến ai cũng trở thành đại gia, đại nhân, công tử...
    Hãn Thanh trao cương ngựa cho một gã rồi bước lên tầng hai, chọn một bàn sát lan can phía trước. Năm xưa, Mông Diện La Sát cũng từng ngồi ở đây.
    Từ vị trí này, chàng có thể nhìn thấy bóng dáng hùng vĩ của tòa cổ tháp Đại Nhạn cao gần hai chục trượng. Tháp này nằm trong khuôn viên của chùa Từ én, phía Nam Trường An, gồm bảy tầng, được xây dựng vào năm thứ ba đời Đường Cao Tông. Đây là một trong những kiệt tác của nển kiến trúc cổ Trung Hoa.
    Và khi nhìn lên hướng Bắc, Hãn Thanh còn được chiêm ngưỡng lẩu chuông cao mười trượng, huy hoàng lộng lẩy. Lầu chuông này nằm ở giữa thành, xây dựng vào năm Hồng Võ thứ mười bảy, đời Minh Thành Tổ.
    Xa hơn nữa, về phía Đông chính là ngọn núi Ly Sơn, nơi mà Dương Qúy Phi đã từng ngâm tấm thân ngà ngọc trong nguồn nước nóng của đầm Thanh Hoa!
    Lần đầu ghé qua Trường An, Hãn Thanh ngây ngất trước khung cảnh xinh đẹp, cổ kính của kinh đô nhà Đường.
    Chiều dần buông, ánh tà dương nhuộm hồng ngọn núi Ly Sơn, cảnh tượng xiết bao diễm lệ. Hoàng hôn trên Ly Sơn chính là một trong bát cảnh của đất Trường An.
    Hãn Thanh nhìn xuống dưới đường, chợt thấy một đoàn người ngựa toàn là đạo sĩ, đông đến hai chục người, đang hối hả đi về hướng Tây!
    Đúng lúc ấy, gã tiểu nhị đứng bên bàn hỏi chàng có dùng thêm rượu thịt gì chăng. Hãn Thanh hỏi:
    - Này tiểu huynh đệ, những đạo sĩ kia đang kéo nhau đi đâu vậy?
    Gã tiểu nhị cười hì hì:
    - Bẩm đại gia! Họ đến Trịnh Sơn Trang ở gần cửa thành Tây đế bắt quỷ đấy ạ!
    Hãn Thanh nghe nhắc đến họ Trịnh, hiếu kỳ bảo:
    - Sự tình thế nào, ngươi mau kể cho ta nghe thử?
    Gã tiểu nhị ra vẻ bí ẩn hạ giọng:
    - Bẩm đại gia! Trịnh gia trang là một nơi nổi tiếng của đất Trường An, nhờ có vườn cảnh rộng ba chục mẫu, diễm lệ phi thường. Nhưng từ nửa tháng nay, trong khu rừng Ngọc Lan phía sau vườn xuất hiện một bầy hồ ly hay ma quỷ gì đấy! Chúng liên tục quấy phá khiến Trịnh gia trang ăn ngủ không yên.
    Quan quân triều đình đã lục soát từng tấc đất mà không thấy gì cả. Trịnh lão chịu thua, bày cỗ bàn ra cúng kiến, quả nhiên có tác dụng. Có điều lạ là rượu thịt đều bị ăn sạch sẽ, không chừa một miếng, và ngày nào cũng phải cúng cả.
    Hãn Thanh ngắt lời gã:
    - Phải chăng Trịnh lão tiếc của nên mới mời đạo sĩ đến trấn yểm?
    Gã tiểu nhị nhăn nhó lắc đầu:
    - Trịnh lão gia giàu nứt đố đổ vách, mỗi ngày một mâm cơm cúng quỷ thần nào có đáng gì? Tiếc rằng bọn chồn, quỷ kia lại mò mẫm bọn tỳ nữ trong trang. Trịnh lão lo cho ái nữ nên mới quyết tâm diệt trừ. Mấy ngày trước, bọn đạo sĩ lập đàn trấn quỷ, bị bốn con ma kia đuổi chạy. Hôm qua, Trịnh lão gia đã đích thân đến Hàng Ma Đạo Quán cách đây năm chục dặm để mời Hàng Ma Chân Nhân vể bắt yêu quái. Có lẽ đêm nay Chân Nhân sẽ ra tay!
    Hãn Thanh mỉm cười bảo gã tính tiền. Còn dư hơn lượng bạc, chàng tặng cho gã tiểu nhị rồi nói:
    - Ta muốn được xem cảnh Hàng Ma Chân Nhân tróc yêu, mong tiểu huynh đài chỉ dùm đường đến Trịnh gia trang!
    Dĩ nhiên gã mau mắn vẽ đường. Hãn Thanh đi về hướng Tây, ba khắc sau đã đến Trịnh gia trang. Trời đã tối mịt nên chẳng thể nào thưởng thức được cảnh đẹp của nơi này!
    Hãn Thanh thấy mé Đông có con đường nhỏ chạy song song với gia trang, liền cho ngựa rẽ vào. Được hơn trăm trượng, nghe bên trong có tiếng chiên mõ, chàng dừng lại, cột ngựa vào một gốc cây, rồi tung mình lên đầu tường.
    Ngay cuối khu vườn cảnh, trước khu rừng Ngọc Lan cao vút, rậm rạp là đàn giải oan, trấn yêu.
    Pháp đàn dựng bằng gỗ, chỉ cao gần trượng, trên bày hương án, cờ xí la liệt. Hãn Thanh nhảy xuống, nương theo bụi hoa, non bộ mà tiến sát vào.
    Hàng Ma Chân Nhân đang cầm kiếm gỗ múa may, tay tả rung chuông đồng leng keng, miệng lẩm bẩm niệm chú.
    Chân Nhân tuổi độ lục tuần, râu năm chòm oai vệ, mắt sáng như sao.
    Thanh kiếm gỗ vẽ vào không khí những đường ngoằn ngoèo khó hiểu, nhưng kiếm kình rít lên vo vo, chứng tõ công lực của lão khá thâm hậu.
    Thỉnh thoảng, Hàng Ma Chân Nhân đốt những đạo bùa vẽ bằng máu gà trống, ném về phía khu rừng. Mảnh giấy nhẹ nhàng kia bay khá xa khiến Hãn Thanh rất khâm phục.
    Còn mười tám tiểu đạo sĩ đứng quanh pháp đàn luôn miệng đọc một đoạn trong kinh Thái Thượng Cảm Þng Thiên của đạo giáo.
    Bỗng hàng cây Ngọc Lan ở bìa rừng rung động mãnh liệt và vọng ra tiếng cười rúc rích như chồn kêu. Sau đó bọn yêu quái ném ra những trái tròn, nhỏ hơn nắm tay, về phía pháp đàn. Chúng ném như mưa và lực đạo cực kỳ mạnh mẽ, khiến đám tiểu đạo sĩ đau đớn bỏ chạy cả về phía sau.
    Hàng Ma Chân Nhân vẫn kiên cường múa tít thanh mộc kiếm chống đỡ, đánh bạt những vật lạ kia. Một quả văng gần Hãn Thanh. Chàng nhặt lên, mỉm cười nhận ra đây là trái lựu.
    Hạ đến, lựu trong vườn trổ hoa đỏ rực và kết trái đầy cành, bọn yêu quái biết chủ nhân lập đàn tróc yêu nên đã hái sẵn làm vũ khí.
    Hàng Ma Chân Nhân chỉ chịu được nửa khắc đã phải nhảy xuống, vì nước lựu chín dính đầy mặt mũi và y phục. Lão giận dữ quát vang:
    - Té ra chúng bay là người chứ không phải yêu ma! Mau xuất hiện cùng bần đạo tỷ thí vài chiêu.
    Một tiểu đạo sĩ trao kiếm thép cho sư phụ, vì kiếm gỗ đào yếu ớt chỉ dành cho ma quỉ.
    Bản thân mười tám tiểu đạo sĩ rút kiếm, bày trận sau lưng Chân Nhân.
    Đám gia đinh của Trịnh gia trang cũng thủ sẵn gậy gộc, sẵn sàng tham chiến. Đuốc thông cháy rừng rực, thắp sáng cả khu rừng.
    Hàng Ma Chân Nhân và các đệ tử tiến lên được vài trượng thì bọn yêu tinh lộ diện. Bốn bóng trắng toát từ trên cây sa xuống gốc, và lướt đến như gió thoảng. Hãn Thanh kinh hãi nhận ra chúng đang thi triển ®o ®nh thân pháp của U Linh Cốc!
    Lúc chưa rời Hầu Phủ, Hãn Thanh đã tò mò tìm hiểu công phu kỳ diệu này của đám Hồ Tốt. Họ vui vẻ giảng giải khẩu quyết vì chàng là Quỷ Hồ Thiếu Tổng Giám. Hãn Thanh nắm được tinh túy của tuyệt kỹ nhưng không thể thực hiện. Thứ nhất là chàng chưa hề luyện Ma Hồ Chân Khí. Thứ hai, chàng thiếu những viên linh đan Hư Cốt, làm cho xương cốt nhẹ dần đi.
    Người của U Linh Cốc đã phải uống trong mười năm mới luyện thành pho khinh công ®o ®nh!
    Tuy nhiên, Hãn Thanh nhờ thuộc làu khẩu quyết nên Hãn Thanh có thể đoán được phương vị di chuyển của những người thi thố thân pháp này.
    Nhắc lại, bốn bóng trắng kia xông vào phe đối phương, miệng cười ma quái, song thủ liên tục vỗ ra những đạo chưởng kình mãnh liệt. Một bóng chặn đánh Hàng Ma Chân Nhân, ba bóng còn lại quần thảo với các tiểu đạo sĩ.
    Thân hình họ phiêu phưởng trong lưới kiếm, nhởn nhơ như bóng u linh.
    Chưa đầy nửa khắc đã đánh cho mười tám tiểu đạo sĩ lăn nhào, kêu cha gọi mẹ nhưng không ai chết cả!
    Khi đã rảnh tay, cả bốn bóng trắng liên thủ vây đánh Hàng Ma Chân Nhân. Dù kiếm thuật của lão đạo sĩ rất cao siêu nhưng không sao địch lại, khi đối phương có thân pháp ẩn hiện như ma muội. Nếu lão cố tình đả thương một bóng thì cũng bỏ mạng vì ba bóng kia. Đấu pháp liên hoàn của bốn con ma này xem ra rất kín đáo nhịp nhàng!
    Hàng Ma Chân Nhân như con chuột bị lũ mèo vờn, mồ hôi toát ra như tắm. Lão giận dữ gầm lên, bỏ trống hậu tâm, lao thẳng vào bóng trắng trước mặt.
    Hành động này rất nguy hiểm vì kẻ địch có thân pháp nhanh như chồn, tất sẽ kịp thời đánh vào sau lưng Chân Nhân, tạo nên thế lưỡng bại câu thương. Chẳng qua cái thanh danh đã làm hại người võ sĩ, nên Chân Nhân mới hồ đồ như vậy.
    Xét ra, bản lãnh của lão cao cường hơn bất cứ ai trong bốn kẻ địch. Vì vậy, khi Chân Nhân đã liều mạng thì bóng trắng trước mặt khó toàn mạng.
    Kiếm quang lấp loáng tỏa rộng, ập đến khiến đối phương khiếp sợ kêu lên:
    - Ái mẹ Ơi!
    Gã đã cố vung chưởng chống đỡ, nhưng không cản được bước tiến của Hàng Ma Chân Nhân. May thay, trong lúc nguy cấp, gã nhoài người xuống đất, lăn tròn trên cỏ nên chỉ bị thương nhẹ Ở lưng.
    Hàng Ma Chân Nhân cũng thừa dịp này lao thẳng về phía trước, vừa kịp lúc ba đạo chưởng kình giáng vào lưng. Dù vậy, thân hình lão cũng bị đẩy văng xa hai trượng, máu miệng ộc ra ướt cả đạo bào.
    Ba con ma kia không đuổi theo mà dừng lại cạnh đồng bọn xem xét. Giờ đây Hãn Thanh và mọi người mới thấy rõ chúng trùm kín trong một tấm vải trắng rất lớn, chỉ khoét hai lỗ nơi đôi mắt.
    Hàng Ma Chân Nhân chỉ bị thương nhẹ, gượng đứng lên nói với Trịnh trang chủ:
    - Trịnh lão thí chủ! Bần đạo đã tận lực nhưng không sao địch lại bốn cao thủ kia. Chúng là người chứ chẳng phải ma đâu!
    Gã bị thương bỗng ngồi bật dậy cười rúc rích:
    - Bọn ta là chồn tinh đây! Nếu Trịnh lão đầu không chịu dâng bốn tỳ nữ để hầu hạ anh em chúng ta thì đừng hòng sống sót!
    Gã đứng lên, cùng ba tên kia lướt đến. Thân hình chúng lơ lửng như không chạm đất. Hai tay dang rộng khiến ai cũng kinh hoàng. Trịng trang chủ cùng gia quyến, gia nhân quỳ cả xuống lạy như tế sao, khóc lóc inh ỏi. Hàng Ma Chân Nhân hậm hực dậm chân, kéo đệ tử đào tẩu cả.
    Khi bốn con chồn tinh còn cách đám người tội nghiệp kia sáu trượng, bỗng có tiếng cười khanh khách:
    - Bọn hồ ly kia khoan hãy đắc ý, còn có ta là Trung Nguyên đại pháp sư đây!
    Và từ sau một bụi hoa, Hãn Thanh lướt ra, đứng đối diện với bốn con ma giả mạo.
    Chúng chẳng nói chẳng rằng, ập đến tấn công luôn. Hãn Thanh ung dung dở phi Cửu Cung Thần Thức, quyền cước thoát ra liên miên bất tuyệt, tung hoành trong vòng vây. Bọn này xử dụng những chiêu đầu trong pho ®o ®nh chưởng pháp, trong khi Hãn Thanh đã luyện ba chiêu cuối cùng, biết rõ lộ số toàn pho. Vì vậy, chiêu của chàng vô cùng chuẩn xác, khiến bốn gã trúng đòn liên tục, thét lên oai oái. Chúng cố vận dụng ®o ®nh thân pháp đến mức chót mà cũng vô hiệu. Chỉ sau nửa khắc, Hãn Thanh lột phăng được bốn mảnh vải trắng, khiến đối phương hiện nguyên hình là những hán tử tuổi trên ba mươi, dung mạo ngây ngô, chất phác.
    Hãn Thanh tung một loạt kỳ chiêu dồn đối phương vào đúng bộ vị rồi xuất chiêu Thập Phương Cam Lộ. Thân hình chàng xoay tít như chong chóng, song thủ chập chờn phất vào huyệt kỳ môn và cương môn trên sườn phải của bốn hán tử. Tuy bàn tay chàng còn cách da thịt họ ba gang tay, nhưng từ đầu ngón trỏ và giữa lại âm thầm xạ ra hai đạo chỉ kình, bắn thẳng vào mục tiêu.
    Cách không chỉ lực còn khó luyện hơn chưởng lực. Sau khi ăn được Hồng Sắc Mãng Xà, Hãn Thanh mới đạt được chút thành tựu như thế này! Chỉ phong không đủ sức đả thương da thịt, nhưng nếu trúng huyệt đạo thì tác dụng rất khả quan!
    Hai huyệt trên đều thuộc kinh túc quyết âm can nên chân hữu các hán tử nhũn ra, ngã lăn xuống đất.
    Chúng gượng ngồi lên, lạy lục van xin:
    - Mong đại hiệp tha mạng! Bọn tiểu nhân chỉ trêu ghẹo, quậy phá chứ không hề hãm hại ai cả!
    Hãn Thanh nghiêm giọng:
    - Bọn ngươi thuộc Đường nào trong ém Dương Đạo?
    Bốn gã xanh mặt nhìn nhau. Gã lớn tuổi nhất run rẩy đáp:
    - Bộn tiểu nhân là Quỷ Tốt của Hồng Đường, thủ hạ của Nhị Phán Quan Hồ Vượng!
    Hãn Thanh gậ gù hỏi tiếp:
    - Vì sao các ngươi lại rời U Linh Cốc đến đây giả ma giả quỷ, nhũng nhiễu lương dân? Chiếu giáo qui, tội này đáng chém!
    Bốn gã Quỷ Tốt kinh hãi kêu oan:
    - Bọn tiểu nhân rời cốc cũng vì bắt buộc! Túi không tiền nên đành phải hí lộng để kiếm chén cơm ăn! Mong đại hiệp tha mạng!
    Bỗng một tên nói:
    - Nhưng đại hiệp là ai mà lại biết bọn ta là người ém Dương Đạo?
    Hãn Thanh không đáp mà cau mày:
    - Chảng lẽ U Linh Cốc đã xảy ra chuyện gì nên bọn ngươi mới bị bắt buộc phải rời khỏi nơi ấy?
    Gã Quỷ Tốt có gương mặt sáng sủa nhất buồn rầu đáp:
    - Quả là có việc hệ trọng, nhưng bọn tiểu nhân không thể tiết lộ cho người ngoài biết được!
    Hãn Thanh suy nghĩ rồi nói:
    - Ta cũng là người thân của U Linh Cốc. Nhưng ở đây nói chuyện bất tiện, các ngươi hãy theo ta đi nơi khác!
    Chàng giảu huyệt cho họ rồi quay sang nói với Trịnh trang chủ:
    - Bốn con hồ ly này đạ bị tại hạ chế phục, mang về núi. Chỉ mong trang chủ giữ kín chuyện hôm nay cho. Ai hỏi xin cứ nói rằng chúng tự bỏ đi.
    Trinh lão mừng như sống lại, vái dài:
    - Cảm tạ tráng sĩ đã thu phục bọn yêu tinh. Lão phu xin hứa sẽ thủ khẩu như bình, và dâng tặng ngàn lượng bạc để đền ơn.
    Hãn Thanh xua tay:
    - Tại hạ không dám nhận đâu! Nếu được, xin trang chủ ban cho bốn con tuấn mã để tại hạ đưa bọn chồn tinh này đi!
    Nãy giờ, mọi người đều đứng rất xa nên không nghe thấy những lời đối đáp của chàng với bốn gã Quỷ Tốt. Họ cứ đinh ninh chúng là yêu quái chứ chẳng phải người. Trịnh lão muốn tống khứ cho nhanh nên quát gia nhân đóng yên bốn con ngựa, chỉ lát sau đã sẵn sàng.
    Hãn Thanh bảo bọn Quỷ Tốt dắt ngựa đi ra cổng chính của trang, còn chàng vượt tường tìm lại tuấn mã của mình.
    Năm người đi vài dặm đã đến khu chợ Tây của thành Trường An. Cửa thành rộng mở dù đã cuối canh một. Khu vực này rất phồn thịnh vì có bến dò vượt sông Vị để đi Lan Châu. Chợ cửa Tây có vẻ sầm uất nhộn nhịp hơn cả chợ Đông.
    Trước tiên Hãn Thanh dắt bốn gã Quỷ Tốt vào tiệm bán y phục may sẵn, bảo chúng tùy ý họn lựa. Kế bên là tòa Tây Mộn Đệ Nhất Điếm sang trọng, và đối diện là Tây Môn Đại Tửu Lâu. Có lẽ hai cơ ngơi này có cùng một chủ nhân!
    Mua quần áo xong, Hãn Thanh ghé vào khách điếm đặt ba phòng thượng hạng, đồng thời nhờ tiểu nhị sang tửu lâu gọi dùm một mâm thịnh soạn.
    Khi họ tắm gội xong thì cỗ bàn đã sẵn sàng. Hãn Thanh mỉm cười bảo:
    - Chắc các ngươi đều đói bụng, cứ tự nhiên đừng khách sáo!
    Bốn gã Quỷ Tốt dù rất thèm thuồng nhưng nhìn nhau chứ không dám cầm đũa. Gã lớn tuổi nhất có đôi mày đen đậm ngập ngừng nói:
    - Mong đại hiệp cho biết lai lịch, nếu không anh em tiểu nhân chẳng bụng dạ nào mà ăn uống cả!
    Last edited by giavui; 07-13-2011 at 02:05 PM.

  5. #24
    Join Date
    Sep 2010
    Bài Viết
    51,725
    Thanks
    1
    Được Cám Ơn 26 Lần
    Trong 26 Bài Viết
    Hãn Thanh vuốt mặt, để lộ chân diện mục và nói:
    - Ta là Mộ Dung Hãn Thanh, trượng phu của Tề Đạm Vân đây!
    Bốn gã vội rời ghế, sụp xuống thi đại lễ:
    - Chúng đệ tử tham kiến Thiếu Tổng Giám!
    Chàng bảo chúng an tọa và báo danh. Gã mày rậm kính cẩn nói:
    - Đệ tử là Đặng Thám. Gã mắt to là Quách Phủ. Gã tai vễnh là Lộ Vi Nhân. Còn gã hay cười kia là Mễ Bất Thông. Gọi chung là U Linh Tứ Hộ Vệ, phụ trách canh phòng U Linh Cốc!
    Hãn Thanh gật đầu:
    - Như thế đã rõ! Các ngươi cứ ăn cho no rồi hãy đàm đạo sau!
    Thế là bốn gã Quỷ Tốt khua đũa không hề khách khí. Hãn Thanh mới ăn hồi chiều nên không đói, chỉ nhấm nháp chút đỉnh để đưa cay.
    Chàng âm thầm quan sát sắc diện U Linh Tứ Hộ Vệ, nhận ra họ đều rất thật thà, mộc mạc. Cuộc sống tu hành trong U Linh Cốc đã khiến họ không bị xã hội làm u ám cái tâm lương thiện! Về võ công xem ra họ khá hơn đám Hồ Tốt đang ở trong Hầu Phủ.
    Tứ Vệ Mễ Bất Thông vỗ bụng cười hì hì:
    - Chưa bao giờ đệ tử được ăn ngon như thế này cả!
    Khu rừng chung quanh U Linh Cốc quả không thiếu thú rừng, nhưng thiếu gia vị và tay nghề nấu nướng thì chẳng thể ngon lành được.
    Ba gã kia cũng đã buông đũa, nâng chén rượu phần thơm phức, hít hà mãi mới uống.
    Nhất Vệ Đặng Thám nhớ đến nghĩa vụ, liền hắng giọng kể:
    - "Bẩm Thiếu Tổng Giám! Sau khi người rời khỏi U Linh Cốc được hai hôm thì Hải Hà Tiên Tử đích thân đến xin bái kiến Tề Tổng Giám và lục vị phán quan. Bà ta mang theo rất nhiều châu báu, vàng bạc để làm lễ vật, nhờ bổn Cốc nối lại dùm bàn tay hữu. Ngay đêm ấy, Tiên Tử còn âm thầm đột nhập ngọa phòng của Tổng Giám để hiến thân. Bọn đệ tử phát hiện ra, liền bám theo, nhưng thấy Tổng Giám không từ chối nên cũng đành im lặng.
    Đêm hôm sau, Tiên Tử lại đến phòng riêng của Hồng Đường phán quan Hồ Vượng. Nhị phán quan chính là Thần Y của U Linh Cốc, có tài nối xương, đắp thịt rất thần diệu. Hành vi này đã khiến bọn đệ tử nghi ngờ nên bám sát để theo dõi. Nào ngờ lại được chứng kiến cảnh dâm loạn kinh người. Mị lực của Tiên Tử đã khiến Hồ phán quan mê muội, cất lời thề sẽ phục vụ bà ta suốt đời.
    Bọn đệ tử đều chưa vợ vì trong Cốc không đủ nữ nhân, cho nên đã không trấn tĩnh nổi. Tam đệ Lộ Vi Nhân bị kích động, thở mạnh, bị phát hiện. Biết Nhị phán quan là người tàn nhẫn, võ công chỉ thua mình Tổng Giám, tất sẽ không để nhân chứng sống sót. Trong khi ấy, Tổng Giám lại tọa quan ba ngày, không thể gặp được. vì vậy, bọn đệ tử đành cấp tốc ly khai U Linh Cốc để bảo toàn mạng sống.
    Không hành lý, không tièn bạc, lần mò mãi mới tình cờ đến được Trịnh gia trang này. Do đói khát nên đành phải giả ma để kiếm miếng ăn." Hãn Thanh phì cười:
    - Thế còn việc mò mẫm bọn tỳ nữ thì sao?
    Tam Vệ Lộ Vi Nhân đỏ mặt:
    - Thiếu Tổng Giám lượng thứ cho! Từ ngày chứng kiến cảnh hành lạc của Hải Hà Tiên Tử với Nhị phán quan, bọn đệ tử luôn bị ám ảnh, không còn giữ gìn được đạo tâm nữa.
    Hãn Thanh mỉm cười độ lượng:
    - Không sao! Đó là bản năng tự nhiên của con người. Sau này theo ta, sẽ có dịp hưởng lạc thú nhân gian. Đâu đâu cũng có những nơi gọi là kỹ viện để nam nhân giải tỏa tâm sự.
    Bốn gã Quỷ Tốt nghe nói được chàng cho tháp tùng, mừng rỡ quỳ cả xuống:
    - Bọn đệ tử xin hết dạ hầu hạ Thiếu Tổng Giám!
    Chàng đỡ họ lên rồi nói:
    - Ta đang trên đường đi Tứ Xuyên đón chuyết thê, xong việc sẽ đến U Linh Cốc minh oan cho các ngươi. Từ nay, cứ gọi ta là công tử, xưng là thuộc hạ.
    Hồng Đường Tứ Vệ hân hoan vâng dạ, đua nhau rót rượu ra mắt. Hãn Thanh chợt nhớ ra:
    - Này Tứ Vệ! Hôm ấy ta bị Tổng Giám đả thương, hôn mê bất tỉnh.
    Nhưng vì sao mãi bảy ngày sau mới rời khỏi U Linh Cốc?
    Nhị Vệ Quách Phủ đảo đôi mắt to tròn tinh anh, ngập ngừng đáp:
    - Thuộc hạ tình cờ biết được ẩn tình ấy. Số là sau khi công tử ngất đi, có đến năm người trong hội đồng phán quan đòi bắt giam công tử để đổi lấy họa đồ Kim Ngọc Bồng Lai Đảo của Hầu Phủ. Nhị phán quan là người khởi xướng việc này. Họ tranh cãi suốt mấy ngày trời, cuối cùng Tề Tổng Giám phải dùng đến ém Dương Lệnh Kỳ mới trấn áp được năm vị phán quan kia. Cũng nhờ có Đại phán quan và Lục phán quan hỗ trợ, nếu không thì Tổng Giám cũng khó thắng được.
    Hãn Thanh cau mày:
    - Còn việc Tề Đạm Vân không được đi theo ta là vì lý do gì?
    Tứ Vệ Mễ Bất Thông cũng muốn góp công. Gã cười toe toét nói:
    - Bẩm công tử! Mười một năm trước, Tề tiểu thư được hứa gả cho con trai của Nam Thiên Quỷ Hồ Tổng Giám ở Tứ Xuyên. Sau Tề Đạm Vân phạm tội, bị lưu đày đến Yến Sơn nên hôn sự không thành. Nay tiểu thư được gã cho công tử thì Tề Tổng Giám phải trả lại sính lễ cho Nam Thien Tổng Giám, rồi mới cho nàng về làm dâu họ Mộ Dung!
    Hãn Thanh giật mình:
    - Té ra ém Dương Đạo lại có đến hai phái Bắc Nam ư?
    Nhất Vệ ứng tiếng:
    - Thưa phải! Nam Thiên Tổng Giám tên gọi Tư Không Nhạ, cai quản giáo chúng Tứ Xuyên và các tỉnh phía Nam Trường Giang.
    Hãn Thanh bỗng linh cảm rằng Tiểu Thuần có liên quan đến tà phái này, chàng vội hỏi:
    - Chư vị có biết trọng địa của họ Ở đâu không?
    Chàng thất vọng khi bốn gã Quỷ Tốt đều lắc đầu!
    Sáng hôm sau, Hãn Thanh cùng U Linh Tứ Vệ rời thành Trường An, đi chếch xuống hướng Tây Nam để đến Hán Trung, rồi từ đấy sang đất Tứ Xuyên! Cuối tháng sáu, bọn Hãn Thanh vào thành Hán Trung. Trời đã chiều nên họ ghé ngang khách điếm. Tắm gội, ăn uống xong, Hãn Thanh cười bảo:
    - Đối diện khách điếm này là Lan Hương kỹ viện, các ngươi hãy sang đấy mà hưởng lạc!
    Chàng phát cho mỗi gã nén vàng hai chục lượng, Tứ Vệ khoan khoái đi ngay.
    Hãn Thanh là người cương cường nên đã cố tìm cách trấn áp lữa dục trong lòng. Ngay trước hai tuyệt thế mỹ nhân là Ngũ Đài Ma Cơ, Viên Nguyệt Hằng Nga chàng cũng chẳng động tình. Chàng cố chờ đến lúc rước được Trịnh Tiểu Thuần và Tề Đạm Vân về Lạc Dương tổ chức đại hỷ. Hãn Thanh cảm thấy có lỗi với Tiểu Thuần khi vương vấn thêm đến ba giai nhân nữa.
    Chàng sai tiểu nhị dọn bàn nhỏ nơi lan can lầu để ngắm cảnh trời sao và cảnh hoa lệ trong thành. Hán Trung nằm ở giữa bờ Bắc sông Hán Thủy, là cửa ngõ vào đất Ba Thục nên cực kỳ sầm uất. Phù sa sông Vị và sông Hán đã bồi đắp cho đồng lúa bạt ngàn chung quanh thành. Hàng hóa, thổ sản của vùng phía Nam Thiểm Tây và Bắc Tứ Xuyên đều tập trung tại đây, để đưa xuống Giang Nam và ra cửa biển.
    Do kinh tế phồn vinh nên phố phường tấp nập khách phong lưu, tiếng cười nói đàn hát rộn ràng dưới ánh đèn nến sáng rực.
    Hãn Thanh ngồi nhâm nhi chén rượu, hồi tưởng đến quá khứ. Hình bóng mẫu thân hiện về khiến tim chàng như thắt lại! Rồi đến những ngày học nghệ bên bờ Hồ Đại Lai, chàng bỗng nhớ sư phụ vô vàn. Kỷ niệm về Tiểu Thuần cũng hiện lên, nổng thắm như mới hôm qua. Chàng miên man suy nghĩ mãi cho đến tận cuối canh hai.
    Chiếc đèn lồng trên cột lan can đã tắt lịm. Hãn Thanh chẳng buồn gọi tiểu nhị, ngồi im trong bóng tối.
    Bỗng chàng nhận ra trên nóc dãy nhà đối diện, cách đấy chừng chục căn, có bóng đen lướt nhanh, trên vai là một người áo trắng, tóc lất phất buông dài.
    Đồng thời, từ nơi gã chui lên vang dậy tiếng người la hét:
    - Bắt dâm tặc!
    Hãn Thanh chụp ngay lấy chiếc đĩa đựng lạc rang thủ sẵn. Khi gã áo đen kia lướt ngang qua nóc nhà trước mặt, chàng vận toàn lực ném mạnh chiếc đĩa. Hãn Thanh học nghề ám khí từ nhỏ nên thủ pháp rất chuẩn xác. Chàng sợ tổn thương nạn nhân nên nhắm ngay chân gã hắc y. Chiếc đĩa bay đi như ánh sao băng, cắm vào bắp chân trái đối phương. Gã dâm tặc đau đớn rú lên, buông rơi thiếu nữ, lảo đảo chạy tiếp, lát sau mất hút.
    Thiếu nữ kia lăn tròn trên mái ngói, nhưng không rơi xuống đất vì bị tấm bảng gỗ vẽ chiêu bài Lan Hương kỹ viện cản lại. Hãn Thanh đã tính đến việc này khi hạ thủ.
    Toán người nhà của nạn nhân đã chạy đến, mừng rỡ hò nhau bắc thang đưa người xuống.
    Thế mà cuộc hỗn loạn này cũng không phá vỡ giấc vu sơn của U Linh Tứ Vệ. bốn gã vẫn miệt mài truy hoan, chẳng chịu về.
    Hãn Thanh tủm tỉm cười, trở vào phòng đi ngủ trước. Chàng hài lòng khi cứu được người, nhưng không ngờ rằng mình vừa gieo mầm tai họa ở tương lai.
    Mãi gần sáng, Hãn Thanh chợt tỉnh giấc vì tiếng lục đục ở hai phòng bên cạnh. Té ra bốn gã Quỷ Tốt đã về!
    Hãn Thanh ngủ thêm một lúc, ngồi dậy tọa công đến tận cuối giờ Thìn.
    Chàng gọi Tứ Vệ dậy ăn sáng rồi lên đường.
    Xem ra bản lãnh bọn kỹ nữ rất lợi hại nên bốn gã Quỷ Tốt uể oải, mệt mỏi như vừa trải qua một trận tử chiến.
    Chúng đỏ mặt thẹn thùng, không dám nhìn thẳng vào mắt Hãn Thanh.
    Nhưng khi ra khỏi cửa Nam thành, Tứ Vệ đã cười nói, kể lại thành tích đêm qua. Tất nhiên, ai cũng khoe rằng mình thần dũng vô song, liên tiếp phá qua, đạp lũng khiến bọn kỹ nữ phục lăn.
    Tam Vệ Lộ Vi Nhân hiu hiu tự đác nói:
    - Lần sau tiểu đệ phải gọi một lượt hai cô mới xứng tay!
    Nhị Vệ Quách Phủ cười mỉa:
    - Lạ thực! Thế mà đêm qua ta nghe phòng ngươi im ắng như tờ, mới giữa canh ba đã nghe tiếng ngáy vang.
    Họ Lộ ngượng ngùng:
    - Nhị ca lầm rồi! Đấy là ả kỹ nữ kia ngáy chứ đâu phải tiểu đệ!
    Tứ Vệ Mễ Bất Thông cười hì hì:
    - Hay thực! Tam ca thượng mã cả đêm mà nàng ta vẫn ngủ say được, quả là quái sự! Té ra ả kỹ nữ kia bản lãnh tuyệt luân, vừa hành nghề vừa ngủ để dưỡng sức!
    Cả bọn cười phì, còn Lộ Vi Nhân đỏ mặt tía tai, không dám khoác lác nữa.
    Năm người đến bến đò sông Hán, lên thuyền sang bờ Nam, cơn mưa hạ khiến trời u ám, ánh dương quang lịm tắt. Gió mưa làm mặt sông dựng sóng, và lòng người thêm buồn vì nhớ đến cố nhân. Năm xưa, Hãn Thanh quen với Tiểu Thuần cũng bởi một cơn mưa mùa hạ thế này. Hãn Thanh nghe lòng buồn vời vợi, khe khẽ ngâm nga:
    Mưa rơi lớp lớp sông dài Gió vỗ sóng nước, u hoài lòng ta Biệt ly ngàn dặm chia xa Vó câu khấp khểnh gian hà ngược xuôi Nhớ xưa đường cũ sánh đôi Nay mưa, chiếc bóng ướt môi lạnh lùng Tìm nhau cho vẹn tinh chung Quỷ Môn đâu tá, bóng hồng gặp chăng?
    Chàng luôn lo lắng không tìm ra Quỷ Môn Quan chỉ có trong thuyết kia nên tức cảnh sinh tình, làm thơ nói lên tâm sự.
    Đò cặp bờ Nam thì cơn mưa cũng tạnh. Bọn Hãn Thanh thúc ngựa phi mau, năm ngày sau chỉ còn cách thành Quảng Nguyên vài mươi dặm. Đây là giao lộ với đường từ Bảo Kê đi Thành Đô, nên khách thương hồ tấp nập, xe ngựa hàng đoàn. Hãn Thanh phải cho tuấn mã đi chậm lại, đồng hành với một toán lữ hành.
    Chàng ngạc nhiên khi thấy có một hán tử áo choàng trắng, cỡi lạc đà chứ không phải ngựa. Gã có vóc dáng tương tự như Hãn Thanh, gương mặt rắn rỏi, vuôn vức, tuổi độ bốn mươi. Lủng lẳng bên hông gã là một thanh đoản đao, vỏ nạm châu báu sáng ngời.
    Gọi là đoản đao nhưng thực ra nó cũng dài bằng trường kiếm, vì trường đao có kích thước đến một trượng đời Đường (khoảng cm) nặng năm mươi cân. Trường đao hay đại đao cán dài là vũ khí trong quân đội, khách võ lâm ít ai dùng đến.
    Đoản đao thường chỉ sắc một bề, sống dày, nên gọi là đơn đao. Nếu lưỡi hơi cong hơn bình thường thì thuộc loại loan đao. Còn có một loại đao hình kiếm bản lớn, thẳng, mũi sắc cả hai cạnh nhưng không thông dụng.
    Như vậy, xét theo hình dáng vỏ đao thì gã bạch y cỡi lạc đà kia xử dụng loan đao. U Linh Tứ Vệ chưa hề thấy qua loài vật đặc biệt của sa mạc, nên chỉ trỏ bàn tán xôn xao. Hãn Thanh bèn giải thích:
    - Tên của con thú ấy là Lạc Đà, là loài duy nhất có thể đưa người ta vượt sa mạc. Nó có thể nhịn khát nửa tháng mà không chết, và khi gặp nước nó uống một lần bốn năm đấu mới no.
    Tam Vệ Lộ Vi Nhân thắc mắc:
    - Bẩm công tử! Sao con vật này lại có lông trắng?
    Chàng cười đáp:
    - Đây là giống Bạch Đà Tây Vực rất quý hiếm. Tuy thấp lùn, bước nhỏ nhưng sức đi ngàn dặm, bền bỉ phi thường.
    Hãn Thanh đi sau mấy trượng, lại không nói lớn, thế mà hán tử nghe thấy, quay lại nhìn chàng. Đôi mắt gã sáng rực và lạnh lẽo nhu băng. Tuy nhiên, gã chẳng nói gì, thúc Bạch Đà tăng tốc độ bỏ rơi đoàn người.
    Trung Hoa ngày xưa có đến hai phần ba diện tích là núi rừng, nên đi đâu cũng gặp. Hai bên đoạn quan đạo phía trước là cánh rừng thưa, vệ đường lau lách mọc đầy nhờ mùa hạ.
    Hán tử Tây Vực kia phi rất nhanh, nên cách xa Hãn Thanh hàng trăm trượng. Nhưng gã vừa đến khúc giữa rừng, liền lọt vào ổ mai phục, trường tiễn bay veo véo, phủ kín toàn thân.
    Hán tử áo trắng vừa nghe tiếng dây cung bật đã kịp rút đao múa tít, tạo thành màn lưới thép hộ thân.
    Bạch Đà chạy thêm vài trượng, khuỵu xuống vì hai vó sau bị trúng tên.
    Hán tử bạch y tung mình rời yên, giận dữ quát vang như sấm:
    - Bọn cường đạo khốn kiếp!
    Lúc này các cung thủ đã thôi không bắn, nhảy ra vây chặt đối phương.
    Đồng thời có tiếng quát ghê rợn:
    - Mộ Dung Hãn Thanh! Phen này ngươi phải đền mạng cho con trai ta!
    Hãn Thanh đã đến đầu rừng chứng kiến mọi việc. Chàng thở dài hối tiếc cho gã cỡi lạc đà. Chiếc áo choàng trắng thấm nước mưa, rũ xuống che mất cái bứu nhỏ của Bạch Đà, nên bọn Thần Tiên Giáo đã ngộ nhận gã là chàng!
    Hán tử Tây Vực gầm lên:
    - Lão nói nhăng gì thế? Ta vừa vào đến Trung Nguyên, làm gì có thù oán với ai?
    Gã huýt sáo bảo Bạch Đà gượng chạy về phía sau, rồi vung đao tấn công liền. Đối tượng của gã chính là Kim Thạch Tà Tẩu Mộc Tiểu Luân.
    Từ ngày bị Hãn Thanh hủy mất một mắt và tay cầm kiếm, võ công Tà Tẩu chỉ còn có hai phần. Mối hận thù chồng chất khiến lão căm hờn Hãn Thanh đến tận xương tủy. Tìm đến Hầu Phủ thì không được, vì doanh trại của Tổng Binh Lạc Dương ở gần đấy. Thế nên lão xung phong đi Tứ Xuyên chạn đường Tiểu Hầu Gia!
    Thấy hán tử áo trắng kia cỡi một con vật có đầu của lạc đà, lại phi nhanh như muốn tránh mai phục. Tà Tẩu vội cho đội cung nỏ hạ thủ ngay. Lão quan niệm rằng thà giết lầm còn hơn bỏ sót. Hơn nữa, ở đất Tứ Xuyên này làm gì có ai cỡi lạc đà.
    Nay biết mình lầm lẫn, Kim Thạch Tà Tẩu vô cùng bối rối. Nhưng sự việc đã lỡ, lão đành phải xuôi theo, ra lệnh cho bọn thủ hạ chặn đối phương lại.
    Nhưng đao pháp của gã hán tử Tây Vực này quả là đáng sợ. Cánh tay trần của gã cuồn cuộn những bắp thịt, đường đao mãnh liệt như chẻ núi. Thanh loan đao trong tay gã lại sắc bén phi thường, lập tức chặt gãy vũ khí của hai tên giáo chúng, tiện phăng thủ cấp. Gã tả xung hữu đột trong vòng vây, liên tiếp đắc thủ, giết một hơi tám gã giáo chúng Thần Tiên Giáo.
    Đứng cạnh Tà Tẩu là một lão nhân cao lớn, tóc hoa râm, râu ba chòm đen nhánh. Trán cao, mũi thẳng, miệng rộng. Nhưng sắc diện lại lạnh lùng như tạc bằng băng tuyết. Lão nhân ấy mặc trường bào tím đậm, tay cầm đao. Có vỏ bằng da cá đen nhánh. Sau khi quan sát kỹ đao pháp của hán tử Tây Vực, Tử Y lão nhân thở dài:
    - Mộc lão huynh đã gây họa rồi! Gã này có lẽ là Tây Hạ Ma Đao Uông Vô Hồi, đệ tử của Tây Thiên Lão Tổ Cù Long Đỉnh!
    Kim Thạch Tà Tẩu cười nhạt:
    - Đã lỡ lên lưng cọp, muốn xuống cũng chẳng được! Chỉ cần giết gã rồi phi tang, ai biết đâu mà báo oán! Mong Lục lão đệ sớm ra tay cho.
    Thì ra lão nhân áo tím này là Đông Nhạc Thần Đao Lục Kính Nghiêm.
    Họ Lục có giao tình thâm hậu với Tà Tẩu nên đã đi theo để giúp Mộc Tiểu Luân đối phó với Tiểu Hầu Gia. Đông Nhạc Thần Đao tin rằng mình sẽ giết được Hãn Thanh, vì bảo đao của lão có từ tính rất mạnh, phá được mọi loại ám khí bằng thép.
    Lục Kính Nghiêm bước ra quát lớn:
    - Dừng tay!
    Bọn giáo đồ lập tức nhảy lùi và Tây Hạ Ma Đao cũng đình thủ. Gã hất cao vành nón rộng, quắc mắt nhìn họ Lục rồi hậm hực:
    - Bọn ngươi là cẩu tặc phương nào mà lại dở trò mai phục, ám toán một cách hạ lưu như vậy?
    Đông Nhạc Thần Đao bị mạt sát thậm tệ, liền nổi nóng, không còn nghĩ đến chuyện điều đình nữa. Lão cười nhạt:
    - Lâo phu không định lấy cái mạng chó của ngươi, nhưng những lời thóa mạ kia đã tước đoạt sinh cơ của ngươi rồi đấy!
    Tây Hạ Ma Đao đâu biết đối phương là ai, gã đau lòng vì con vật thân yêu bị thương nên hung hãn xông vào. Đao quang xanh biếc, lấp loáng dưới ánh dương quang, chụp lấy kẻ địch.
    Đông Nhạc Thần Đao vẫn tự hào mình là người dùng đao giỏi nhất thiên hạ. Thanh đao trong vỏ bay ra như ánh chớp, hóa thành ngàn bóng ảnh tím mờ. Hai thanh đao chạm nhau, tiếng thép tốt ngân dài rồi tắt lịm.
    Tây Hạ Ma Đao Uông Vô Hồi nhảy lùi, vai trái và ngực phải trúng đòn, máu tuôn ướt áo. Gã nghiến răng điểm huyệt chỉ huyết rồi lại xông vào, lần này công ít thủ nhiều, đao quang liền lạc, kín đáo. Đông Nhạc Thần Đao cũng muốn tìm hiểu đao pháp Tây Vực nên không hạ độc thủ ngay, ung dung giải phá.
    Chắc độc giả thắc mắc là vì sao Hãn Thanh không xuất hiện, mà nỡ để họ Uông mang họa vì mình?
    Thưa không, chàng đang bận chăm sóc vết thương cho Bạch Đà.
    Khi trúng tên vào hai chân sau, Bạch Đà nhờ sức khỏe phi thường nên đã gượng dậy, theo lời chủ nhân mà chạy ngược lại, để tránh xa đấu trường. Nó khập khễnh bước đi, đi đến đầu rừng thì khựng lại vì đường quan đạo đã bị chặn kín bởi xe, ngựa của khách lữ hành.
    Bạch Đà sợ hãi dừng bước, kêu lên những tiếng bi thương. Hãn Thanh khẽ huýt sáo theo một âm điệu lạ tai. Bạch Đà như nhận ra người quen, nhìn chàng mừng rỡ, đuôi vẫy nhanh miệng hí nhỏ.
    Hãn Thanh xuống ngựa, bước đến ôm cổ nó vuốt ve và thì thầm điều gì đó, rồi tiến hành việc trị thương. Chàng nhổ hai mũi tên ra khỏi đùi con vật, bóp nát hai viên Tịch Cốc Toàn Sinh hoàn, đắp vào vết thương. Đây là loại thuốc quý nên máu cầm ngay và cảm giác đau đớn mất dần. Hãn Thanh xé áo choàng băng chặt lại, dẫn con vật vào bóng mát bên đường. Bạch Đà tỏ lòng biết ơn bằng cách liếm tay chàng.
    Hãn Thanh vừa làm vừa quan sát cuộc chiến giữa Uông Vô Hồi, thầm khâm phục đao pháp của gã. Nhưng chàng cũng nhận ra đối thủ của họ Uông là Đông Nhạc Thần Đao nhờ màn đao quang tím nhạt. Chàng biết Uông Vô Hồi không thể thoát chết, nên quyết định hành động ngay.
    Hãn Thanh nói nhỏ với U Linh Tứ Vệ:
    - Bọn Thần Tiên Giáo mai phục để giết ta, không ngờ lại nhận lầm người.
    Các ngươi mau luồn ra phía sau, tập kích bọn giáo đồ, không được để sót một tên!
    Bốn gã Quỷ Tốt hăng hái đi ngay. Hãn Thanh nói bâng quơ với đoàn ngươi:
    - Trận quyết đấu này quả là ngàn năm có một, tại hạ phải đến gần để xem cho thỏa mãn.
    Phàm là người học võ, ai cũng khao khát được chứng kiến những cuộc so tài như thế, do vậy, có mấy chục khách võ lâm hưởng ứng đi ngay. Họ đi theo Hãn Thanh đến sát đấu trường.
    Lúc này, trên người của Uông Vô Hồi đã có thêm bốn dấu đao nữa.
    Nhưng gã vẫn kiên cường lao vào địch thủ, dũng mãnh như thẩn long.
    Kim Thạch Tà Tẩu và năm mươi thủ hạ siết chặc vòng vây, đứng dọc bìa rừng và chặn ngang quan đạo.
    Nào ngờ, từ trên tàn cây mỗi bên có hai bóng ảnh lao xuống, chưởng kình vũ bảo kèm theo bụi trắng mờ.
    Chất độc Vụ Tảo Thiên Quân là vũ khí trấn sơn của ém Dương Đạo giết người trong nháy mắt. Do đó, chỉ đợt tấn công đầu tiên, U Linh Tứ Vệ đã loại được hai chục kẻ địch.
    Kim Thạch Tà Tẩu kinh hãi hét lên:
    - ém Dương Đạo!
    Lão đã mất gần hết võ công nên không dám sính cường, vội đào tẩu ngay, để mặc thủ hạ chết dưới tay U Linh Tứ Vệ. Thân pháp của lão vẫn nhanh nhẹn tuyệt luân, nhưng còn chậm hơn khinh công ®o ®nh.
    Nhất Vệ Đạng Thám nhớ lời dặn của Hãn Thanh nên không dám để ai đào vong. Gã lập tức lao theo Mộc Tiểu Luân, chỉ vài chục trượng đã bắt kịp đối phương.
    Mộc Tiểu Luân đâu ngờ ®o ®nh Thân Pháp lại nhanh và êm ái như ma quỷ, nên không phát hiện được tiếng gió giũ y phục của lão đã che mất hành tung của Nhất Vệ. Khi Tà Tẩu nhận ra thì đã quá muộn. Song chưởng của Đạng Thám vỗ vào lưng lão như chùy sắt, khiến tâm mạch đứt đoạn, hộc máu chết ngay.
    Nhất vệ cẩn thận thăm mạch, xác định đối phương đã chết hẳn mới yên tâm quay về. Gã là người cẩn trọng, chu đáo nên mới được giao trọng trách bảo vệ U Linh Cốc.
    Nhắc lại, Hãn Thanh vừa thấy thủ hạ ra tay, đã tung mình khỏi yên ngựa, lướt về phía Đông Nhạc Thần Đao. Chàng dồn hết chân khí vào bảo kiếm, xuất chiêu Trùng Dương Cúc Tiếu.
    Cũng như chiêu chưởng Cửu Cửu Nhất Nguyên, chiêu kiếm này cũng gồm tám mươi mốt thức kiếm, vì vậy, Bất Biệt Cư Sĩ mới mượn chữ Trùng Dương mà đặt tên.
    Kiếm ảnh không tỏa rộng mà vung nên chín bông cúc nở rộ, tấn công vào chín phương vị trên thân thể của Lục Thần Đao.
    Thân pháp và kiếm ý đã tố cáo lai lịch của Hãn Thanh. Lục Kính Nghiêm không dám xem thường. Bỏ Uông Vô Hồn, quay sang đón chiêu. Dẫu sao, lão cũng bị chậm mất một khoảnh khắc quý giá. Đao kiếm chạm nhau chan chát, song phương cùng lui lại.
    Bắp tay trái của Đông Nhạc Thần Đao bị Hầu Tước Kiếm đâm thủng, nhưng ngực phải Hãn Thanh cũng vướng đao rách áo, đứt da.
    Tây Hạ Ma Đao thấy có người tham chiến, nhẩy vào vệ đường chăm sóc vét thương. Gã nhìn dáo dác, nhận ra Bạch Đà vẫn an toàn, hai chân được băng bó, thản nhiên gặm cỏ. Gã đoán rằng chính hán tử áo lam kia đã cứu vật yêu của mình.
    Ma Đao tròn mát quan sát, nhận ra người mới đến có bản lĩnh rất cao siêu, hiện đang đấu cầm đồng với Đông Nhạc Thần Đao. Uông Vô Hồi tuy ở tận Tây Hạ nhưng cũng biết tiếng Lục Kính Nghiêm. Luồng đao quang màu tím của lão ta là tiêu chí không lầm được! Họ Uông quên cả đau đớn, dán mắt vào cuộc tử đấu kia.
    Phần Hãn Thanh cũng dồn hết tâm trí vào trận chiến. Công lực họ Lục thâm hậu gấp đôi chàng, nên dù bị thương cũng dần dần chiếm được thượng phong.
    Pho Tử Quang Đao Pháp đã tạo nên thanh danh cho Lục Kính Nghiêm.
    Nhất là sau khi Bạch Y Hầu đả bại, lão đã khổ công bổ xuyến, giờ đây đạt đến mức toàn bích, lợi hại khôn lường. Giả như Bạch Y Hầu Mộ Dung Thiên còn sống cũng chưa chắc đã thắng được Lục Kính Nghiêm.
    Hãn Thanh đã dung hóa Mộ Dung kiếm pháp gia truyền vào sở học.
    Chàng tùy cơ mà xuất chieu chứ không phân biệt lai lịch. Suốt năm năm ở Hồ Đạt Lai, chàng chỉ chuyên luyện có kiếm pháp mà thôi, vì các công phu khác đã được học từ nhỏ. Nhờ vậy Hãn Thanh mới có thể tiếp thu được hết pho Nhất Nguyên Kiếm Pháp bao la, uyên ảo nhất thế gian.
    Giờ đây, Hãn Thanh đem hết vốn liếng ra quần thảo với tay đao số một Trung Nguyên. Đường kiếm của chàng liên miên bất tuyệt, nối nhau tựa sóng Hoàng Hà và nhanh như thiểm diện.
    Phép khoái kiếm kỳ ảo này đã bổ sung được phần yếu kém về nội lực, mấy lần suýt lấy mạng đối phương. Nhưng mỗi lúc lâm nguy, Đông Nhạc Thần Đao lại dồn thêm chân khí vào thân đao, đánh bạt bảo kiếm của Hãn Thanh. Công lực thâm hậu của lão đã phá được những chiêu kiếm kỳ ảo kia, dù ngực và bạch thủy chín lỗ rướm máu.
    Đồng thời, mũi tử đao cũng rạch tám đường trên người Hãn Thanh. Đã bốn trăm chiêu đã qua mà vẫn chưa phân thắng bại. Lục Kính Nghiêm đã nghe bọn hào khách quan chiến khen ngợi đối thủ của mình, tự ái tổn thương, liền hạ độc thủ. Lão biết chân khí Hãn Thanh đã hao hụt khá nhiều, nên dồn toàn lực tung mình lên không trung, thi triển phép Ngự Đao, hóa thành trái cầu tím lịm, chụp xuống đầu đối thủ.
    Hãn Thanh thấy chiêu đao nặng như núi Thái, không dám chống đỡ, liền phóng mạnh bảo kiếm vào thân dưới đối phương. Cũng đã dồn hết sức nên thanh Hầu Tước Kiếm bay đi như ánh chớp. Đương nhiên, Đông Nhạc Thần Đao phải đánh bật ra và chậm mất một nhịp. Nhân cơ hội ấy, Hãn Thanh đảo bộ lùi nhanh, thoát khỏi phạm vi khống chế của chiêu đao.

  6. #25
    Join Date
    Sep 2010
    Bài Viết
    51,725
    Thanks
    1
    Được Cám Ơn 26 Lần
    Trong 26 Bài Viết
    Lục Kính Nghiêm đành bỏ dở chiêu thức, hạ chân xuống đất, cười nhạt:
    - Nay đã không có vũ khí trên tay, Tiểu Hầu kia muốn trăn trối điều gì xin cứ nói.
    Hãn Thanh mỉm cười:
    - Chưa chắc ai là người cần nói lời di chúc!
    Vừa dứt câu, Hãn Thanh ập đến như cơn lốc, thân ảnh chập chờn và song thủ hóa thành muôn bàn tay vàng huyền ảo. Chàng đã thi triển chiêu Huyền Hoặc Phủ Sinh trong ®o ®nh Tam Chiêu.
    Đông Nhạc Kỳ Nhân giật mình trước chiêu chưởng quái dị, vội múa tít Tử Quang chống đỡ.
    Đối với bậc đại hành gia, chiêu thức tùy tâm khi phát nên tuy bất ngờ mà đường đao vận kín kẽ, công thủ có đủ. Lục Kính Nghiêm tin rằng sẽ chẻ đôi thân hình đối phương không khó.
    Nào ngờ ®o ®nh Chưởng Pháp lại là tuyệt học của tà môn, biến ảo phi thường, không hiểu đã bằng cách nào đã lan qua được màn đao quang dầy đặc vỗ vào ngực Đông Nhạc Thần Đao!
    Hãn Thanh đã dùng đến thủ pháp Kim Sa Ấn, phổ vào chiêu chưởng nên lực đạo rất nặng nề. Đông Nhạc Thần Đao trúng đòn, hự lên rồi hộc máu thành vòi. Nếu không có lớp cương khí hộ thân, xương lồng ngực của lão đã dập nát. Lục Kính nghiêm chẳng dám chần chờ, tung mình đào tẩu vào rừng mất dạng.
    U Linh Tứ Vệ đã thanh toán xong bọn thủ hạ Thần Tiên Giáo, đứng quan chiến, thấy Lục Kính Nghiêm bỏ chạy, họ định đuổi theo nhưng đã bị Hãn Thanh cản lại:
    - Không cần đâu! Lão đã vào rừng, đuổi theo rất nguy hiểm!
    Bốn gã Quỷ Tốt rất cảm động khi thấy chàng lo lắng cho họ! Tứ Vệ chạy đi nhặt thanh Hầu Tước Kiếm, mỉm cười toe toét:
    - Lão quỷ già kia trúng chưởng hộc cả máu mồm mà vẫn chạy nhanh ra phết.
    Hãn Thanh bước đến, đối diện Tây Hạ Ma Đao, lột mặt nạ, vòng tay cung kính nói:
    - Tiểu đệ chính là Mộ Dung Hãn Thanh. Vì tiểu đệ mà huynh đài thọ nạn. Lòng này áy náy xiết bao!
    Uông Vô Hồi hân hoan cười hào sảng:
    - Chuyện tai bay vạ gió là thường tình trong thiên hạ, công tử nào có lỗi gì! Đúng ra Uông mỗ còn phải cảm tạ công tử đã cứu mạng và chữa trị cho Bạch Đà!
    Lúc này, con vật thông linh đã đến bên họ Uông.
    Hãn Thanh bỗng có cảm tình với hán tử Tây Vực này. Chàng cười bảo - Bạc Đà chỉ bị thương nhẹ, tiểu đệ đã dùng loại linh đan của Thiết Địch Thần Y nên chỉ hai hôm là lành thôi.
    Chàng quay ra, quan sát đoàn xe, thấy một chiếc trống rỗng liền chặn lại:
    - Tại hạ muốn mua chiếc xe này, mong túc hạ vui lòng nhượng lại!
    Bọn lái buôn đã chứng kiến bản lãn thần sầu quỷ khốc của chàng nên vô cùng kính phục, răm rắp tuân lời:
    - Xin công tử cứ lấy mà dùng, nó chẳng đáng bao nhiêu cả.
    Hãn Thanh mỉm cười, nhét nén vàng mười lượng vào tay gã:
    - Mong túc hạ nhận cho, nếu không Thanh này sẽ rất hỗ thẹn!
    ít thì có thể chê chứ mười lượng vàng thì quả là khó chối từ. Gã lái buôn khom lưng cảm tạ, giao xe cho Hãn Thanh.
    Chàng nói với Uông Vô Hồi:
    - Uông huynh hãy đưa Bạch Đà lên xe, chúng ta phải tìm nơi uống mừng hội ngộ mới được!
    Tây Hạ Ma Đao hài lòng, đẩy Bạch Đà lên thùng xe không mui, bảo nó nằm xuống, rồi lên làm xà ích, đi theo bọn Hãn Thanh.
    Hai khắc sau, sáu người đã vào đến thành Quảng Nguyên, ghé ngay tửu điếm ở cửa Bắc. Vì nơi đây rộng rãi, mát mẻ.
    ún uống, chuyện trò tương đắc đến hơn nửa canh giờ Uông Vô Hồi mới chia tay Hãn Thanh, đi dọc theo sông Gia Lăng, để đến nơi đã định. còn bọn Hãn Thanh vượt sông đi về hướng Thành Đô. Quảng Nguyên nằm ở bờ Đông sông Gia Lăng. phong cảnh sông nước núi đồi và cây cối hai bờ con sông này là danh lam thắng cảnh đất Tứ Xuyên.
    Hai đại danh họa đời Đường là Ngô Đạo Tử và Lý Tư Huấn đã phục mệnh vua Đường đến Tứ Xuyên để vẽ cảnh vật sông Gia Lăng.
    Lý Tư Huấn chiếu theo thực tế trước mặt, cặm cụi vẽ một tháng ròng mới xong. Trong lúc ấy, Ngô Đạo Tử chỉ nhởn nhơ dạo chơi, ngắm nghía. Lúc về triều, Ngô Đạo Tử lấy giấy bút, vẽ theo ký ức, trong một ngày đã vẽ xong bức Bách Lý Gia Lăng Giang. Cả hai tác phẩm kiệt xuất như nhau, được vua Đường khen rằng "Giai cực kỳ diện", nghĩa là cả hai đều hay tuyệt!
    Nhưng giờ đây, Hãn Thanh không còn tâm trí đâu mà thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên cẩm tú này. Lòng chàng đang nặng trĩu ưu tư vì những lời nói của Tây Hạ Ma Đao Uông Vô Hồi!
    Ma Đao đã cùng chàng kết tình bằng hữu, sau đó tiết lộ rằng tấm hải đổ Kim Ngọc Bổng Lai Đảo của giòng họ Mộ Dung gởi trong quốc khố đã bị một vị Hoàng Thân đầy thế lực và nhiều tham vọng chiếm đoạt. Lão ta đã chuẩn bị thuyền bè, chờ ngày ra Đông Hải. Do có mối giao tình thâm hậu với sư phụ của Ma Đao, nên Hải Trường Công đã gởi thơ mời Tây Thiên Lão Tổ tham gia cuộc hải hành vì lão tổ đã từng dọc biển Đông suốt ba mươi năm ròng.
    Nhưng Tây Môn Lão Tổ đang thời kỳ tọa quan khẩn yếu nên không đi được. Ông bèn sai Ma Đao đến núi Lăng Sơn cạnh sông Gia Lăng tìm người nghĩa đệ đi thay. Hải Thượng Tu La Thái Vang Thông thuộc Đông Hải như lòng bàn tay, tất sẽ giúp HảI Trường Công Chu Kích tìm ra Bổng Lai Đảo.
    Hãn Thanh lo sợ rằng lão gian thần kia sẽ vét sạch tài sản và đưa mấy ngàn dân mình đồng da sắt trên đảo vào Trung Nguyên để tạo phản.
    Với số vàng ngọc khổng lồ kia, Hải Trường Công dễ dàng chiêu binh mãi mã, vì người đời có mấy ai thoát khỏi sự cám dỗ của hoàng kim? Ngay Hải Hà Tiên Tử, hai lần xuất đạo khai giáo, cũng chỉ do mưu cầu danh và lợi mà thôi!
    Chu Kích là đương kim Tổng Đốc Sơn Đông, có trong tay mười vạn quân, cộng với ưu thế mới, việc tạo phản chẳng khó gì!
    Quân Mãn Châu ngày đêm uy hiếp biên thùy phía Bắc, đã mấy chục năm khiến quốc khố cạn kiệt vì phải duy trì trăm vạn quân phòng thủ Sơn Hải Quan Hà và một dài trường thành.
    Triều đình thiếu ngân sách binh bị, nên đã liên tục tăng thuế khiến sinh linh đồ thán, giặc cướp nổi lên như cỏ dại. Trong tình hình này nếu Hải Trường Công làm phản, đất nước sẽ đại loạn. Lúc ấy, bách tính rơi vào cảnh lầm than, chết chóc, đau khổ không sao tả xiết.
    Hãn Thanh tưỵ nhận trách nhiệm về mình, vì tấm hải đồ kia là của giòng họ Mộ Dung. Trong huyết quản chàng đang sục sôi giòng máu của người hiệp sĩ, thề sẽ xả thân ngăn chận đại họa cho xã tắc.
    Hãn Thanh nhẩm tính còn đến hơn ba tháng nữa là hết mùa mưa bão, đoàn thuyền của Hải Trường Công mới dám ra khơi. Chàng đủ thời gian để lo toan mọi việc, nên không ưu tư nữa.
    Đầu tháng bảy, bọn Hãn Thanh đến đất Phong Đô. Khắp nơi mịt mù mùi khói nhang và giấy tiền vàng bạc.
    Người Trung Hoa cổ tin rằng ngày đầu tháng bảy là ngày âm phủ mở cửa để ma quỷ ra, đến ngày cuối tháng thì đóng lại. Nghĩa là đến tháng bảy thì tất cả người cô hồn không ai thờ cúng lên thế gian để xin ăn. Do đó, nhà nhà đều bày cỗ bàn cúng tế, bố thí cho vong linh.
    Người giàu có thì ngày nào cũng cúng, nhưng người nghèo thì có thể chỉ cúng vào ngày rằm tháng bảy. Ngày này được gọi là tiết Trung Nguyên, một trong những ngày lễ quan trọng của người Trung Hoa.
    Phong Đô lại mà nơi có cửa xuống âm ty, nên tiết Trung Nguyên ở đây nhộn nhịp không gì tiết Nguyên Đán hay Trung Thu.
    Nhưng khi Hãn Thanh hỏi thăm vị trí của Quỷ Môn Quan thì ai cũng lắc đầu. Chàng liền đưa thủ hạ vào khách điếm nghỉ trọ rồi một mình đến tửu quán lớn nhất thành. Chàng hy vọng rằng ở nơi đông đúc ấy tìm ra manh mối.
    Mông Diện La Sát đã từng dạy chàng rằng:
    Chưởng quỉ và tiểu nhị Ớ các quán ăn là những người có kiến văn rất rộng vì hàng ngày tiếp xúc với thực khách, nghe được nhiều điều lý thú.
    Quả thực vậy, rượu vào lời ra, các tửu khách ngà ngà say thường cao giọng khoe khoang hiểu biết, cố dành lấy sự khâm phục của người chung quanh. Nhờ vậy, những người phục vụ trong tửu quán chẳng cần đi xa cũng đều rất thông thạo tin tức.
    Kim Thạch Tà Tẩu đã chết nên Hãn Thanh có thể yên tâm mang chiếc mặt nạ trẻ trung hôm trước lúc đóng vai sư đệ Thương Tâm Kiếm, đến Ngũ Đài Sơn.
    Tiếc rằng chàng đã đi hết lượt các quán xá của Phong Đô, chàng vẫn không nghe được câu trả lời. Đã là mười hai tháng bảy, Hãn Thanh vô cùng thất vọng, liền lộ mặt thật, dạo khắp nơi, để xem Tiểu Thuần có tự tìm đến hay không?
    Chàng đi trước, bốn gã Quỷ Tốt bám theo sau để bảo vệ, đề phòng thủ đoạn của Thần Tiên Giáo.
    Đến chiều mười bốn vẫn chưa thấy âm hao của ái thê, Hãn Thanh buồn bã, vào quán rượu uống chén giải sầu.
    Bỗng ngoài cửa quán có tiếng chuông lắc leng keng của một lão thầy bói nào đó. Hãn Thanh nhìn ra thấy một đạo sĩ du phương, râu bạc như mây, tay rung chuông, tay cầm chiêu bài bằng vải, trên ghi dòng chữ:
    Nhất Sự Nghi Lai!
    Chỉ có bốn chữ đơn giản nhưng hàm ý rằng lão ta giải quyết được mọi sự trên đời, ai có việc gì nghi hoặc cứ đến hỏi.
    Hãn Thanh không tin bói toán, nhưng bất giác sinh lòng ngưỡng mộ vẻ tiên phong đạo cốt của ông ta. Chàng bảo tiểu nhị ra mời đạo sĩ vào.
    Lão Đạo vào đến, thản nhiên ngồi xuống ghế cười bảo:
    - Bần đạo nhịn đói đã bẩy ngày và sanh ý ế ẩm. Công tử muốn hỏi gì thì trước tiên phải đãi bần đạo một bữa thịnh soạn cái đã!
    Hãn Thanh gật đầu và bảo tiểu nhị dọn ra thêm năm món đắt tiền nhất và vò rượu lâu năm.
    Lão Đạo chậm rãi ăn uống, mỗi miếng đều nhai thật lâu mới nuốt. Bữa ăn của lão kéo dài hơn một canh giờ mới xong và chẳng còn sót lại miếng nào.
    Hãn Thanh vẫn kiên nhẫn chờ đợi, tự mình chuốc chén, không hề hối thúc.
    Lão Đạo dùng ngay tay áo của chiếc đạo bào trắng cũ kỹ, đã ngả sang màu cháo lòng lau miệng, rồi cười khà:
    - Bần đạo là Hoàng Thạch Công, dám hỏi tính danh tài chủ?
    Hãn Thanh biết ngay lão dùng tên giả, vì Hoàng Thạch Công là một vị tiên đời Tần, sư phụ Trương Lương. Nhưng chàng không để tâm đến chuyện ấy, cung kính vòng tay đáp:
    - Vãn bối là Mộ Dung Hãn Thanh!
    Hoàng Thạch Công vẫn điềm nhiên như không hề biết đối phương là Tiểu Hầu Gia vang danh tứ hải. Ông ta gật gù nói:
    - Công tử tướng mạo tôn quí tất lắm tiền nhiều bạc. Bần đạo tùy duyên quyên giáo, giàu nghèo lấy giá khác nhau. Do đó, mỗi quẻ sẽ là ngàn lượng bạc.
    Tên tiểu nhị nãy giờ cố tình đứng gần để nghe ngóng, liền giật bắn mình, nghĩ thầm lão thầy bói kia đang tìm cách gạt gẫm chàng công tử ngây thơ.
    Gã càng bực bội khi thấy Hãn Thanh vui vẻ chấp nhận:
    - Vãn bối xin tuân mệnh! Chỉ cần đạo trưởng cho biết vị trí của Quỷ Môn Quan.
    Hoàng Thạch Công giật mình gãi đầu đáp:
    - Chết thực! Đây là thiên cơ, nói ra sẽ rất nguy hiểm, mong công tử trả gấp đôi mới đáng công của bần đạo.
    Gã tiểu nhị giận run người, chỉ muốn xông đến bóp cổ lão thầy bói xảo quyệt kia. Hãn Thanh thường đến đây ăn uống và ban thưởng hậu, nên gã rất mến chàng.
    Hãn Thanh lại gật đầu:
    - Hai ngàn lượng cũng đáng, mong đạo trưởng chỉ giáo!
    Hoàng Thạch Công hài lòng, hắng giọng ngân nga:
    Nhân gian đại mộng thùy ngôn tiểu Lô hỏa thuần thanh bạch nhật thăng Tạm dịch:
    Mộng lớn đời người ai bảo nhỏ Lò lửa toàn xanh bỗng hóa tiên!
    Hãn Thanh nghe xong vòng tay nói:
    - Cảm tạ tiên trưởng đã dạy bảo.
    Chàng móc hai tờ ngân phiếu ngàn lượng, kính cẩn trao cho lão.
    Hoàng Thạch Công nhận lấy, mỉm cười nói rất nhỏ:
    - Sáng mai! Một mình đến phía Nam chân núi Dương Sơn chờ ta!
    Nói xong, lão đạo trưởng đứng lên đi mất.
    Hãn Thanh hân hoan gọi tiểu nhị tính tiền, trở về khách điếm. U Linh Tứ Vệ nãy giờ ngồi cách đấy mấy bàn cũng vội đi theo.
    Vào đến phòng, Nhị Vệ Quách Phủ rụt rè hỏi:
    - Công tử! Liệu có phải là bẫy rập của Thần Tiên Giáo hay không?
    Hãn Thanh lắc đầu giải thích:
    - Chắc chắn không phải! Trong bức thư trên áo choàng, Tiểu Thuần không ghi tên mình mà chỉ thư danh là Bạch Nhật Quỷ Hồn. Nay trong hai câu thơ kia có chữ Tiểu và chữ Thuần, tất chẳng phải do Thần Tiên Giáo bày ra!
    Đêm ấy, Hãn Thanh ngủ rất yên giấc, mờ sáng đã dậy để đi đến núi Dương Sơn, ở phía Bắc Phong Đô. Chàng ăn điểm tâm rất nhanh, lên ngựa phi mau, đầu giờ Thìn đã có mặt ở chân núi phía Nam.
    Hoàng Thạch Công đã chờ sẵn. Thấy chàng đến, lão quay lưng đi vào đám loạn thạch. Hãn Thanh vội xuống ngựa bám theo. Tuy đây không phải là một trận pháp kỳ môn, nhưng người thường khó mà qua được vì đá núi ngổn ngang, cây cối, bụi rậm um tùm. Hoàng Thạch Công nhẹ nhàng như đám mây, lướt từ tảng đá này sang tảng đá khác. Hãn Thanh dồn toàn lực vào đôi chân mới không bị bỏ rơi.
    Hết khu vực loạn thạch là bãi cỏ xanh mơn mởn, nằm trước một khe núi hẹp, lờ mờ sương sớm.
    Hoàng Thạch Công chỉ vào trong ấy hiền hòa bảo:
    - Đây chính là Quỷ Môn Quan! Trịnh Tiểu Thuần đang chờ công tử trong ấy, mau vào mà hội ngộ!
    Hãn Thanh mừng rỡ vòng tay cảm tạ rồi lướt nhanh vào khe núi. Được chừng hai mươi trượng, đôi mắt tinh tường của chàng phát hiện phía trước có vực sâu, liền chậm lại. Đi thêm một đoạn, bỗng trong đám bụi rậm mé hữu sau lưng Hãn Thanh phát ra tiếng động sột soạt. Chàng luôn phải đề phòng cạm bẫy của Phù Dung Hội trước kia và Thần Tiên Giáo sau này, nên rất cảnh giác, lập tức quay lại.
    Nhờ vậy, Hãn Thanh kịp nhận ra Hoàng Thạch Công đang áp sát, vung song thủ tấn công mình. Chiêu chưởng của lão cực kỳ mãnh liệt và đôi mắt rừng rực sát khí.
    Hãn Thanh đã nhiều phen vào sanh ra tử nên phản ứng rất thần tốc, phi thân chếch sang mé hữu, tránh thoát đòn tập kích chết người kia. Chàng hạ thân xuống một tảng đá giữa cây, khiến con thỏ xám trong ấy sợ hãi phóng ra.
    Như vậy, tiếng động lúc nãy là do con vật hiền lành này gây ra vô tình cứu mạng Hãn Thanh.
    Hoàng Thạch Công cười vang:
    - Mạng ngươi quá lớn nên mới được con thỏ kia cứu nguy, nhưng sao không xuống đây so tài với lão vài chiêu?
    Hãn Thanh biết mình đã bị gạt, phẫn nộ gằn giọng nói:
    - Lão là ai mà lại bày kế hại ta?
    Hoàng Thạch Công ngạo nghễ đáp:
    - Té ra sư phụ ngươi không hề nhắc đến cố nhân ở núi Quang Minh Đỉnh hay sao?
    Hãn Thanh giật mình:
    - Quang Minh Tôn Giả Khúc Tú Sơn!
    Lão nhân gật đầu đắc ý, Hãn Thanh nghiêm giọng:
    - Tiền bối là bậc kỳ nhân danh vọng không thua gì gia sư, sao lại chịu hạ mình làm thủ hạ Hải Hà Tiên Tử?
    Khúc Tú Sơn cười khanh khách:
    - Lão phu nào xem Mai Thanh Phố ra gì! Có điều mụ ta là vưu vật số một thế gian, lão phu chẳng thể bỏ qua. Hơn nữa, bí thuật trường xuân của Tiên Tử là điều lão phu cần đến. Sau khi học được công phu ấy, giáo chủ Thần Tiên Giáo là ta chứ không phải Mai Thanh Phố!
    Hãn Thanh không ngờ Tôn Giả đã chín mươi mà còn háo sắc như vậy.
    Chàng lạnh lùng hỏi:
    - Nếu tiền bối không thực tâm qui phục Hải Hà Tiên Tử, tại sao lại phải cố giết cho được tại hạ?
    Quang Minh Tôn Giả rít lên:
    - Kim Thạch Tà Tẩu Mộc Tiến Luân là em rể của lão phu, còn Mộc Kỳ Dương là cháu ruột. Ngươi đã giết họ mà còn hỏi tại sao nữa ư?
    Hãn Thanh biết mình khó thoát chết, điềm tĩnh nói:
    - Té ra là thế! Nhưng trước khi tử đấu, tại hạ muốn biết vì sao tiền bối lại tỏ tường lai lịch của chuyết thê như vậy?
    Tôn Giả phá lên cười:
    - Lão phu quen biết với song thân Tiểu Thuần, đâu lạ gì cái biệt danh Bạch Nhật Quỷ Hồn kia!
    Hãn Thanh đã giải tỏa được mối nghi ngờ, an nhiên thụ mệnh. Bản lãnh Khúc Tú Sơn chỉ thua ân sư chàng có nửa bậc. Hãn Thanh cầm chắc cái chết trong tay. Hơn nữa, sau lưng chàng là vực thẳm. Còn tả hữu là vách núi dựng đứng, muốn đào tẩu cũng không được.
    Hãn Thanh ôm kiếm vái chào, phong thái ung dung, tự tại, khiến Tôn Giả phải khâm phục:
    - Bất Biệt Cư Sĩ có thể tự hào khi có được đồ đệ như ngươi. Lão phu giết đi quả cũng là đáng tiếc.
    Hãn Thanh mỉm cười, vung kiếm tung mình rời đỉnh tảng đá, bốc cao hai trượng rồi dùng phép ngự kiếm xuất chiêu Nguyệt Trầm Thu thủy. Ánh dương đã lọt vào khe núi nên vòng kiếm quang lấp loáng, trông như bóng nguyệt đêm rằm.
    Hãn Thanh biết cơ hội sống sót của mình rất mong manh nên đã dồn hết chân khí vào chiêu đầu, quyết đổi mạng với đối phương.
    Quang Minh Tôn Giả nhếch mép cười, song thủ khoa nhanh, vẽ nên một trái cầu khí màu xanh nhạt, đón lấy chiêu kiếm.
    Cũng như lần đối phó với Tây Nhạc Lão Quái Hàn Thế Đức, vẩng kiếm quang quanh thân Hãn Thanh đột ngột xoay dọc, như chiếc mâm tròn sắc bén, chẻ đôi chưởng kình.
    Nhưng đối thủ lần này lại có công lực thâm hậu hơn Hàn lão quái vài bậc và chưởng pháp quỉ dị tuyệt luân. Chưởng kình của Quang Minh Tôn Giả không lạnh lẽo, độc hại, nhưng bền chắc phi thường. Hãn Thanh có cảm giác mình như con ruồi sa vào lưới nhện bùng nhùng không sao thoát ra được. Và có những luồng lực đạo vô hình nào đấy liên tục vỗ vào thân chàng. Đồng thời chưởng kình đẩy Hãn Thanh văng ngược về phía sau, rơi xuống vực thẳm.
    Quang Minh Tôn Giả ngẩn người lẩm bẩm:
    - Nếu ta không tận lực xuất thủ, tất chẳng thể nguyên vẹn trước chiêu kiếm kia. Tiểu tử này quả là đóa kỳ hoa của võ lâm!
    Lão đã tận mắt chứng kiến đối phương rơi xuống khá xa bờ vực, không thể nào thoát chết được nên yên tâm trở ra! Khe núi lấy lại vẻ tịch mịch cố hữu, và con thỏ xám lại tung tăng chạy nhảy.

  7. #26
    Join Date
    Sep 2010
    Bài Viết
    51,725
    Thanks
    1
    Được Cám Ơn 26 Lần
    Trong 26 Bài Viết
    Hồi 10

    Tống Phu Hồi Cố Thồ
    Linh Cảnh Đắc Kỳ Trân
    Còn U Linh Tứ Vệ thì sao? Lúc họ thức giấc thì Hãn Thanh đã đi rồi, bốn gã ăn sáng xong, vui vẻ bàn bạc. Tam Vệ Lộ Vi Nhân nói ngay:
    - Tối qua công tử đã cho phép chúng ta dạo chơi, trong lúc người đi đón phu nhân. Tiểu đệ đề nghị đến Thanh Xuân viện giải khuây. Đại ca và nhị ca thấy thế nào?
    Tứ Vệ Mễ Bất Thông cười khà khà:
    - Tiểu đệ nghe bọn tiểu nhị đồn rằng Thanh Xuân việc có một ả kỹ nữ rất đẹp tên gọi Địch Phấn Hương. Chúng ta đi sớm thế này tất sẽ gặp được nàng!
    Nhất Vệ Đặng Thám đăm chiêu nói:
    - Không hiểu sao ta lại áy náy chẳng yên, lo lắng cho Thiếu Tổng Giám!
    Gương mặt của lão đạo sĩ kia dường như ta đã gặp qua, nhưng nhớ mãi không ra! Hay là các đệ cứ đi đi, ta ở lại suy nghĩ xem sao!
    Nhị Vệ Quách Phủ lên tiếng:
    - Thiếu Tổng Giám đã khẳng định Thần Tiên Giáo không thể biết tánh danh của Thiếu phu nhân. Đai ca lo lắng làm gì vô ích? Anh em chúng ta phúc họa cùng hưởng, bọn tiểu đệ đâu thể vui thú một mình?
    Hai gã kia cũng phụ họa, khiến Nhất Vệ xiêu lòng, đi theo hai em.
    Từ ngày theo hầu Hãn Thanh, lúc nào trong túi Tứ Vệ cũng rủng rẻng mấy nén vàng, nên gương mặt họ phởn phơ, phong thái mạnh dạn, ra dáng đại ca!
    Kỹ viện thường sinh hoạt tư buổi chiều, nhưng cũng chẳng từ chối những khách phong lưu nóng ruột đến sớm. Gã qui nô dụi mắt, cố nặn ra nụ cười tươi tỉnh chào đón bốn thượng khách:
    - Tứ vị đại gia giá lâm mở hàng sớm thế này, thật tạo phúc cho bổn viện, xin mời vào!
    Mụ qui nương chủ thanh lâu nghe báo có khách, che miệng ngáp dài, bò dậy phấn son sơ sài, chạy ra ngay.
    Tam Vệ hỏi liền:
    - Tiểu cô nương Địch Phấn Hương đã dậy chưa?
    Mụ qui nương gượng cười:
    - Mong đại gia thông cảm! Địch nữ nhân khó chịu trong người nên không thể tiếp khách được. Tuy nhiên, bổn viện vẫn còn nhiều nữ nhân xinh đẹp, trẻ trung, đang sẵn sàng hầu hạ bậc anh hùng!
    Mụ đổi hơi, che miệng cười:
    - Hơn nữa, chư vị có đến bốn người, chẳng lẽ lại định liên thủ giáp công một nữ nhân?
    Tam Vệ ngượng ngùng gắt:
    - Thôi được! Mụ gọi cho anh em ta bốn nàng đẹp nhất!
    Mụ qui nương nói thẳng:
    - Sáng sớm mở hàng, mong đại gia trả tiền trước để bổn viện lấy hên!
    Nhất vệ bực bội hừ nhẹ, nhưng vẫn móc vàng ra trả.
    Tứ Vệ tuy đã gần bốn mươi nhưng chưa vợ nên hăng máu truy hoan, cho bõ những năm phòng không chiếc bóng.
    Nhưng cuộc vui nào cũng có lúc tàn, hơn canh giờ sau họ kiệt sức, nằm nói chuyện vu vơ với mấy ả kỹ nữ. Tất nhiên là mỗi cặp một phòng.
    Người nằm với Nhất Vệ tên gọi Hoa Hoa. Nàng ta cố thủ thỉ kể lể kiếp hồng nhan bạc phận của mình, để xin thêm tiền thưởng. Khách làng chơi ít kinh nghiệm thường dễ dàng mũi lòng trước cảnh ngộ thương tâm do bọn kỹ nữ bịa ra.
    Hoa Hoa mơn man lồng ngực lông lá của Đặng Thám, kể lể khúc nôi. Sau trận mây mưa, đầu óc Nhất Vệ thư thái hơn, gã cố nhớ lai lịch của gã đạo sĩ Hoàng Thạch Công kia.
    Hoa Hoa thấy gã cứ im lìm như tượng gỗ, nhìn lên trần nhà liền đổi dể tài:
    - Tướng công biết vì sao danh kỹ Địch Phấn Hương lại nằm liệt giường hay không? Số là tối qua có một lão đạo sĩ tóc bạc đã bỏ ra ngàn lượng bạc để bao nàng suốt đêm. Nghe Hương tỷ kể lại rằng lão ta quả là khủng khiếp, không biết mệt là gì, lão liên tục thượng mã, hành hạ Hương tỷ cho đến đầu canh năm mới buông ra, chính vì vậy mà nàng ta mới phát ốm nặng!
    Nhất Vệ nghe xong choáng váng, hỏi ngay:
    - Có phải lão ta làm nghề bói toán hay không?
    Hoa Hoa xác nhận:
    - Dúng vậy! Trưa hôm qua thiếp đứng trên lan can có nhìn thấy lão cầm chiêu bài đi ngang qua!
    Nhất Vệ linh cảm chủ nhân đã gặp nguy, ngồi bật dậy. Hoa Hoa níu lại nói:
    - Thiếp còn cha mẹ già ở An Khánh, mong tướng công ban thưởng để thiếp về cho họ!
    Câu nói của nàng kỹ nữ đã phá tan mây mù trong ký ức Nhất Vệ, gã thảng thốt kêu lên:
    - Quang Minh Tôn Giả ở Hoàng Sơn!
    Mười năm trước, Nhất Vệ đã được tháp tùng Tổng Giám Tề Phi Tuyết đi An Khánh. Trong dịp này, họ Tề đã ghé núi Quang Minh Đỉnh trong rặng Hoàng Sơn để thăm Tôn Giả. Khúc Tú Sơn vốn là bằng hữu với sư phụ U Linh Cốc chủ! Do thời gian quá lâu nên Nhất Vệ quên mất diện mạo họ Khúc.
    Đặng Thám mặc vội quần áo, ném ngay nén vàng mười lượng tặng cho Hoa Hoa rồi phóng ra ngoài quát vang:
    - Công tử đã sa vào bẫy! Các ngươi hãy nhanh chân lên!
    Ba gã Quỷ Tốt kia hồn phi phách tán, xỏ nhanh y phục chạy ra. Nhất Vệ nghẹn ngào nói:
    - Ta đã nhớ ra rồi! Lão đạo ma kia chính thực là Quang Minh Tôn Giả.
    Tổng hộ giáo của Thần Tiên Giáo!
    Cả bọn lao xuống như bay xô ngã cả gã qui nô gác cửa. Mụ qui nương lẩm bẩm:
    - Họ làm gì như bị ma đuổi thế kia? May mà lão nương đã khôn ngoan lấy tiền trước!
    - Chỉ một mình Hoa Hoa cô nương biết nguyên nhân, nhưng không dại gì nói ra, hân hoan lắng nghe hơi lạnh của nén vàng giấu trong bụng.
    U Linh Tứ Vệ khẩn cấp đến nỗi không kịp về khách điếm lấy ngựa, thi triển khinh công lướt đi như bốn bóng ma mờ mờ. Người trong thành kinh hãi nhìn theo, xôn xao bàn tán rằng hôm nay là ngày rằm tháng bảy nên ma quỷ xuất hiện cả ban ngày!
    Gần khắc sau, bốn gã Quỷ Tốt đến chân núi Dương Sơn, ôm ngực thở hồng hộc, vui mừng nhận ra con tuấn mã của chủ nhân đang gặm cỏ gần đồi loạn thạch.
    Chúng chỉ nghỉ ngơi một lát đã bủa ra tìm kiếm, miệng gọi vang:
    - Công tử! Mộ Dung công tử!
    Nhưng lúc này Hãn Thanh đã rơi xuống vực thẳm nên không ai đáp lại những tiếng gọi khẩn thiết kia.
    Bốn gã đồng thanh hô một lượt nên tiếng gọi rất lớn và vang xa. Vì vậy, lát sau có người từ hướng Tây chạy đến. Đó là một nữ lang áo trắng, tóc buông dài ngang lưng, mặt xinh đẹp tuyệt trần, da dẻ trắng hồng.
    Vừa đến nơi, nữ lang đã hỏi ngay:
    - Chư vị đang gội vị Mộ Dung công tử nào vậy?
    Tứ Vệ linh cảm nữ nhân tuyệt sắc này là Trịnh Tiểu Thuần, mừng rỡ nhìn nhau. Nhất Vệ là anh cả nên thường nói trước:
    - Phải chăng cô nương họ Trịnh?
    Nữ lang gật đầu:
    - Thiếp là Trịnh Tiểu Thuần đây!
    Tứ Vệ nhất tề quỳ xuống:
    - Chúng thuộc hạ bái kiến phu nhân!
    Tiểu Thuần mỉm cười:
    - Té ra chư vị là thủ hạ của Tiểu Hầu Gia. Nhưng công tử đi đâu mà các vị đến đây tìm?
    Nhất Vệ biết ngay nàng chưa gặp Hãn Thanh. Gã run rẩy nói:
    - Chiều qua, công tử hỏi thăm một lão đạo sĩ bói toán. Lão bảo rằng Quỷ Môn Quan ở đây, hẹn đưa công tử đi tìm!
    Tiểu Thuần biến sắc:
    - Quỷ Môn Quan chỉ là câu nói của ta chứ nào có thực! Chàng là người thông minh sao không chờ ta đến đón mà lại đi tìm? Nhưng lão đạo sĩ kia là ai mà lại đi gạt gẫm Hãn Thanh?
    Nhất Vệ sa lệ đáp:
    - Thuộc hạ đoán rằng lải là Quang Minh Tôn Giả Khúc Tú Sơn, hiện giữ chứ Tổng hộ giá dưới trướng Hải Hà Tiên Tử! Trên đường đến Phong Đô công tử đã từng gặp mai phục của họ, có lẽ Quang Minh Tôn Giá là chặng cuối!
    Gã bèn kể lại trận chiến với Đông Nhạc Thần Đao ở ngoài thành Quảng Nguyên. Tiểu Thuần tái mặt, rưng rưng nước mắt:
    - Do lỗi tại ta nên chàng mới sa vào bẫy!
    Tứ Vệ Mễ Bất Thông có tật lúc nào cũng cười. Dù trong hoàn cảnh thế này mà gã vẫn cười rồi mới ấp úng hỏi:
    - Vì sao phu nhân lại không thể xuất hiện sớm hơn?
    Tiểu Thuần gạt lệ đáp:
    - Gia mẫu lâm trọng bệnh, ta phải chầu chực phụng hầu. Đến cuối canh tư đêm qua bà mới hoàn toàn thoát hiểm. Mờ sáng ta đã vào thành tìm kiếm, nào ngờ lại quá muộn.
    Nhị Vệ thấy thương nàng vô hạn, vội an ủi:
    - Phu nhân hãy bình tâm, công tử có bản lĩnh siêu phàm, lẽ nào lại chết bởi tay Quang Minh Tôn Giả!
    Tiểu Thuần bật khóc:
    - Tứ vị không biết đấy thôi! Võ công của Khúc Tú Sơn hơn chàng đến mấy bực.
    Nhất Vệ thở dài:
    - Dẫu không còn hy vọng, nhưng phải tìm cho thấy thi thể của công tử.
    Sau đó chúng ta sẽ đi tìm lão quỷ họ Khúc kia mà hỏi tội!
    Câu nói của gã trấn tỉnh được Tiểu Thuần! Nàng còn có bổn phận phải báo thù cho trượng phu. Tiểu Thuần vốn là bậc kỳ nữ, chỉ vì choáng váng trược sự mất tích của trượng phu nên mới trở thành yếu đuối. Nay nàng tỉnh táo lại, sáng suốt và kiên quyết như xưa. Tiểu Thuần nghiêm giọng:
    - Tứ vị đã lục soát những nơi nào rồi?
    Nhất Vệ dáp thay cho cả bọn:
    - Bẩm phu nhân! Chỉ còn đám loạn thạch là chưa kịp vào mà thôi!
    Tiểu Thuần cau mày bảo:
    - Vậy thì chư vị hãy đi theo ta!
    Dứt lời, nàng phi thân vào khu vực ấy, thân pháp nhanh đến nỗi bọn Quỷ Tốt phải bái phục.
    Chẳng lâu la gì, họ đã đến được khe núi và phát hiện được vực thẳm phía trong. Đây là một vết nứt ngang do địa chấn, tuy chỉ rộng bốn năm trượng nhưng chiều sâu thì hun hút.
    Vết máu hồng còn vương đầy trên cỏ chứng tỏ nơi đây chính là chỗ Hãn Thanh bị hại! Nhưnh không thấy xác chàng đâu, Tiểu Thuần kinh hãi chạy đến bên bờ vực gọi vang:
    - Tướng công! Tướng công!
    Chỉ có tiếng của chính nàng vang vọng lại. Tiểu Thuần quị xuống khóc nức nở:
    - Hãn Thanh ơi! Thiếp đã hại chàng rồi!
    Nhất Vệ và Nhị Vệ vội lao đến nắm chặt gót chân nàng, còn hai gã kia níu vai họ. Tiểu Thuần quay lại cười lạnh:
    - Ta không tự sát đâu mà các vị phải lo lắng như vậy! Chưa phân thây được Quang Minh Tôn Giả, ta sao dám gặp mặt chàng!
    Hai gã Quỷ Tốt lúng túng buông chân nàng ra. Tiểu Thuần đứng lên nhiêm giọng:
    - Các ngươi hãy trở lại nội thành mua thật nhiều giây thừng mang đến đây!
    Bốn gã cúi đầu nhận lệnh, cùng bước ra. Hai khắc sau họ đã quay lại với hàng đống vòng giây chão trên hai vai. Mỗi cuộn xả ra dài năm trượng, tổng cộng bốn chục cuộn, vị chi là hai trăm trượng.
    Tiểu Thuần chờ Tứ Vệ nối xong mười cuộn, liền nghiêm giọng:
    - Như vậy là tạm đủ! Để ta xuống thử, nếu thiếu thì nối thêm!
    Nhị Vệ vội nói:
    - Dám xin phu nhân cho phép thuộc hạ xuống đáy vực!
    Tiểu Thuần cười nhạt:
    - Vực thẳm này đầy dẫy chướng khí, người chưa đến nơi đã chết ngạt rồi!
    Nàng cột một đầu dây vào bụng rồi bảo chúng thả mình xuống.
    Tuy không có đuốc nhưng lúc này vầng dương lơ lửng đỉnh đầu khiến vực thẳm đở tối tăm.
    Tiểu Thuần nhận ra lòng vực có rất nhiều những sợi dây leo nhỏ hơn cổ tay, đan từ vách đá này sang vách đá kia, một số sợi bị đứt chứng tỏ Hãn Thanh đã rơi vào đấy. Một tia hy vọng bừng lên trong Tiểu Thuần. Nàng ngửa cổ quát vang:
    - Thả nhanh lên!
    Tứ Vệ vội làm theo lời nàng. Tiểu Thuần xuống rất mau. Miệng thầm van vái cho đáy vực đừng có đá tảng. Nếu là nước, bùn, hay cỏ mục thì Hãn Thanh có cơ sống sót. Chàng đã luyện công phu Thiên Ma Bách Luyện thân thể rắn chắc hơn người thường gấp mấy lần, lại nhờ những sợi dây leo cản bớt đà rơi.
    Nếu không gặp đá khó mà chết được.
    Đáy vực lờ mờ dâng cao dần. Tiểu Thuần trợn mắt cố nhìn cho rõ. Cuối cùng, cũng thấy Hãn Thanh nằm sấp trên thảm lá mục. Thân hình chàng lún sâu xuống, cơ hồ ngập hết bề cao của thân, chứng tỏ thảm rất dầy. Tiểu Thuần rú lên, tháo dây chão khỏi bụng, chạy đến xem xét. Nàng lật ngửa Hãn Thanh, nắm cổ tay chẩn đoán. Thấy mạch vẫn còn đập dù rất yếu Tiểu Thuần thở phào, áp mặt vào ngực chàng khóc nức nở.
    Gần tháng sau, bến đò Nam Hán Thủy Đoạn đối diện với thành Hán Trung xôn xao vì sự xuất hiện của một đám ma kỳ quái.
    Gọi đám ma cũng không chính xác vì không có kèn trống, cờ phướn, hay tang quyến, chỉ có một cỗ quan tài bằng gỗ Bách, do không được sơn phết nên lộ ra những thớ mịn màu nâu nhạt, và tỏa mùi thơm thoang thoảng.
    Chiếc linh cữu mộc mạc này có chiều cao hơi khác thường, nghĩa là chỉ bằng một nửa. Như vậy nắp hòm sẽ cách mặt tử thi độ gang tay. Nhờ thu nhỏ thể tích nên áo quan nằm gọn trên hai vai của hai hán tử mặt mũi hốc hác, râu ria lởm chởm.
    Ba người còn lại gồm một nữ lang và hai nam nhân nữa. Nàng ta không chít khăn tang, toàn thân bạch y, tóc xõa dài, sắc diện buồn vời vợi nhưng xinh đẹp não nùng.
    Năm người, ba con tuấn mã. Sao họ không buộc cỗ quan tài kia lên ngựa, hay mua cỗ xe mà chở mà lại phải vác?
    Xem ra không phải do họ thiếu tiền, vì vừa đến nơi, hán tử mày rậm đã nhẩy xuống, bao nguyên chiếc thuyền cạnh bờ để sang sông, chứ không chờ đò ngang.
    Lão chủ thuyền vừa mở miệng đòi mười lượng bạc, đã nghe câu trả lời - Ta sẽ trả hai mươi lượng, nếu lão chèo nhanh gấp đôi, và năm mươi lượng nếu qua sông trong vòng một khắc.
    Lão chủ thuyền mừng rỡ, gọi thêm tay chèo, quyết lấy cho được năm mươi lượng!
    Người vừa yên vị thì thuyền lập tức rời bến. Tám trạo phu lực lưỡng ra sức đẩy mái chèo, lướt sang bờ Bắc. Trong lúc ấy hai hán tử vẫn giữ tấn, giữ hòm trên vai, xuống tấn, chịu đựng không để chiếc linh cữu bị lắc lư.
    Tất nhiên thuyền đến bờ Bắc vượt quá thời gian một khắc, nhưng chủ thuyền vẫn được nhận năm chục lượng. Lão khom lưng cảm ơn rối rít.
    Ba ngươi kia lên bờ là ra roi phi nhanh như bị ma đuổi, còn đôi hán tử vác hòm cũng vậy. Họ hành vân nên chiếc hòm gỗ không hề bị dao động.
    Khi vào đến nội thành, người trên đường qua lại tấp nập nên đám tang kỳ lạ phải chậm lại.
    Bỗng nữ lang bạch y lên tiếng:
    - Hãy dừng chân tìm chỗ ăn uống!
    Thế là hai hán tử vác hòm ghé ngay vào phạn điếm bên đường.
    Chưởng quỷ hốt hoảng chặn lại:
    - Mong chư vị để linh cữu ở ngoài cho!
    Hai gã vẫn thản nhiên tiến vào, cẩn thận đặt hòm trên mặt bàn rồi quay lại trả lời:
    - Ai nói với lão rằng đây là người chết? Mau dọn cơm ra đây, nếu không ta sẽ đốt sạch cái ổ chó này!
    Dứt lời, gã vung quyền giáng xuống mặt ghế đôn. Hán Thủy tữu lâu sang trọng nhất thành nên bàn ghế đều làm bằng danh mộc. Thế mà chiếc ghế vững chắc kia gãy như gỗ mục.
    Lão chưởng quỷ kinh hoàng, van lạy rối rít, đốc thúc tiểu nhị bày cơm rượu trên chiếc bàn thứ hai.
    Nữ lang áo trắng vào đến móc ra đỉnh bạc năm lượng, đưa cho chưởng quỷ và dịu giọng:
    - Mong túc hạ nhanh tay cho, bọn ta cần lên đường sớm!
    Ánh hoàng kim đã khiến lão già to béo, nhút nhát này vững bụng cười hì hì:
    - Phu nhân yên tâm,chỉ nửa khắc là có ngay!
    Năm người ngồi xuống bàn, uống tạm mấy hớp trà. Nữ lang nhìn bốn gương mặt hốc hác kia, cau mày nói:
    - Nếu tiếp tục đi kiểu này, e rằng tứ vị sẽ kiệt sức mất. Có lẽ phải mua một chiếc xe mui kín để thay phiên ngủ nghỉ!
    Nàng rút tấm thẻ bài bằng vàng trao cho Nhất Vệ:
    - Ngươi cầm Hầu Tước Kim Bài đến trạm dịch trong thành, đổi ngựa, nhớ thưởng cho bọn dịch thừa để lấy ngựa tốt.
    Đặng Thám lãnh lệnh đi ngay. Tiểu Thuần lại gọi chưởng quỷ:
    - Phiền túc hạ cho biết nơi nào có bán xe long mã?
    Lão béo vui vẻ chỉ dẫn, và Nhị Vệ Quách Phủ lãnh nhiệm vụ này. Thời gian đối với họ còn quý hơn vàng bạc nên chẳng có ai cò kè đắt rẻ, mua bán rất nhanh, chỉ lát sau là có đủ ngựa và xe.
    Com được dọn ra, bốn gã Quỷ Tốt ăn như rồng cuốn, nhưng không dám đụng đến rượu. Thấy Tiểu Thuần không cầm đũa, Nhất Vệ bùi ngùi nói:
    - Phu nhân nên ăn vài miếng để có sức bôn hành. Đường đến Lạc Dương còn xa lắm!
    Tiểu Thuần nở nụ cười thê lương:
    - Ta không đói, các ngươi cứ ăn đi!
    Nàng rời bàn, đến bên hòm gỗ, mở nắp ra. Thực khách nín thở, chỉ sợ phải nghe mùi hôi thối.
    Nhưng Hãn Thanh vẫn còn cách Quỷ Môn Quan một bước. Tâm mạch chàng đã tổn thương nghiêm trọng, chỉ cần bị chấn động mạnh là chết ngay.
    Chính vì vậy, Tiểu Thuần phải đặt chàng vào hòm gỗ, bắt Tứ Vệ khiêng đi. Chỉ có bước chân êm ái của họ mới không làm Hãn Thanh thiệt mạng.
    Chàng phải được đưa đến Lạc Dương càng sớm càng tốt, vì Thiết Địch Thần Y là người duy nhất có thể cứu được Hãn Thanh!
    Tiểu Thuần bảo chưởng quỷ sửa soạn một số thức ăn để lâu được như:
    thịt sấy, vịt lạp.... mang theo. Nàng biết tính đàn ông thích rượu nên mua thêm vài vò rượu ngon.
    Chưa đầy khắc sau họ đã lên đường. Tam Vệ, Tứ Vệ, lăn ra sàn xe ngủ vùi, vì giờ đây đến phiên Nhất Vệ và Nhị Vệ.
    Tiểu Thuần tuy là nữ nhân nhưng sức chịu đựng quả phi thường. Suốt tháng nay, nàng ngủ rất ít và giờ đây thản nhiên đánh xe, tiếp tục cuộc hành trình.
    Thu về từ đầu tháng tám, rừng cây vàng úa, được điểm xuyến thêm màu đỏ rực của cây Phong, cây Thích, cây Hoàng Lư.... Và màu xanh muôn thuở của Tùng, Bách khiến cảnh vật muôn phần diễm lệ. Nhưng những cảnh chiếc lá ngô đồng rụng rơi theo gió lại làm cho lòng Tiểu Thuần đau đớn. Hãn Thanh giờ đây cũng như chiếc lá sắp lìa cành! Hai hàng lệ lén trào ra đôi mắt nhung huyền sâu thẳm, chảy dài trên gương mặt xanh xao!
    Đến cuối giờ Thân, đoàn người đã cách xa Hán Trung năm chục dặm.
    Đến cây cầu gổ bắc ngang dòng suối chảy từ trong rừng ra. Tiểu Thuần cao giọng gọi :
    - Dừng lại!
    Đặng Thám và Quách Phủ thở phào nhẹ nhỏm. Họ đã cảm thấy rất mệt mỏi. Tiểu Thuần nhẩy xuống xe, khoác bọc hành lý chạy đến đỡ lấy hòm gỗ và bảo:
    - Ta sẽ thay áo cho tướng công! Các ngươi cũng nên tắm rửa, ăn uống, nghỉ một lúc sẽ đi tiếp! Đêm nay trăng sáng!
    Tiểu Thuần đặt hòm gỗ lên vai, lướt nhanh vào rừng. Đến đoạn bờ suối sạch sẽ, nàng đặt hòm xuống, nhẹ nhàng bồng trượng phu ra. Hãn Thanh hoàn toàn lõa thể cho thoáng mát, vì quanh hòm chỉ có những lỗ thông hơi nhỏ.
    Tiểu Thuần bồng chàng xuống suối đặt trrong lòng mà tắm gội. Thân thể rắn chắc của Hãn Thanh giờ đã ốm đi nhiều và trên mặt râu ria lởm chởm.
    Nước mắt Tiểu Thuần tuôn ra vì thương cảm, và đôi má thoáng hồng khi nhớ lại ngày nào lúc nàng giả chết được Hãn Thanh chăm sóc!
    Cuộc ái ân ngày ấy đã khiến nàng không thể luyện thành Ngọc Nữ Nhất ém Thần Công. Nhưng Tiểu Thuần không bao giờ ân hận về điều ấy, vì đã cứu được Hãn Thanh. Nàng đã cố giữ gìn cho đến lúc luyện xong tuyệt kỹ gia truyền, nên mới giả ma quỉ, xác chết mà gần gũi người mình yêu dấu!
    Là nữ nhân, Tiểu Thuần cần gì võ công vô địch và tấm thân kim cương bất hoại? Nàng chỉ cần có được một đấng trượng phu tài mạo như Hãn Thanh thôi!
    Lần đầu gặp nhau, cũng là lúc nàng sắp chết vì tẩu hỏa nhập ma. Trời đã se duyên nên sét đánh vỡ trận kỳ môn, xui khiến cho cậu bé mười ba tuổi kia vào miếu, cứu sống nàng. Lòng biết ơn vô hạn đã biến thành tình yêu từ lúc nào không rõ! Hơn nữa, dù Hãn Thanh còn nhỏ cũng đã là một nam nhân.
    Thân xác nàng đã được chàng ôm ấp, nhìn ngắm, chẳng thể thuộc về ai được nữa!
    Khi Hãn Thanh trở lại Hằng Sơn, sau năm năm học nghệ, Tiểu Thuần đã giả chết và để lại di thư để xem tình cảm của chàng đối với mình ra sao. Nếu Hãn Thanh chỉ coi mình như người chị, nàng sẽ rời xa mãi. Nào ngờ Hãn Thanh cũng yêu mình say đắm, nên tơ duyên mới trói buộc cả hai.
    Tiểu Thuần bồng trượng phu đặt lên lớp chăn êm trong hòm. Nàng trở xuống suối tắm gội qua loa. Vì luyện Ngọc Nữ Nhất ém Thần Công từ nhỏ nên cơ thể có luồng cương khí bao bọc không lấm bụi đường, dù nhịn tắm cả tháng cũng không hôi hám!
    Tiểu Thuần ra đến chân cầu thì U Linh Tứ Vệ đã tắm táp xong xuôi. Đang bày rượu thịt. Nàng đặt hòm gỗ xuống đất, ăn vài miếng cho họ vui lòng!
    Cỏ ở vệ đường xanh tốt nên ngựa cũng được no nê. nghỉ ngơi tổng cộng chỉ nửa canh giờ, bọn Tiểu Thuần lại lên đường, tiếp tục cuộc hành trình vất vả.
    Mười hai ngày sau, bốn gã môn nhân gác cửa Hầu Phủ hầm hầm nổi giận khi thấy hai hán tử râu ria, bụi bậm vác quan tài xăm xăm đi vào, đương nhiên là họ bị chặn ngay lại:
    - Quay lại ngay! Bổn Hầu Phủ đâu có ai chết mà mang vật xui xẻo kia đến đây!
    Tam Vệ và Tứ Vệ thở hồng hộc, cáu kỉnh quát:
    - Xui xẻo cái mả cha ngươi! Tiểu Hầu Gia ở trong này đấy!
    Bốn gã gia đinh kinh hãi dạt ra, để khách vào. Theo sau đó còn có một cỗ xe song mã mà xà ích là nữ nhân!

  8. #27
    Join Date
    Sep 2010
    Bài Viết
    51,725
    Thanks
    1
    Được Cám Ơn 26 Lần
    Trong 26 Bài Viết
    Không biết trong xe có gì và hư thực ra sao, một gã môn nhân bèn gõ chuông báo động. Cả nhà xách vũ khí ùa ra sân trước!
    Lộ Vi Nhân và Mễ Bất Thông đã hoàn toàn kiệt lực, đặt hòm xuống trước sân gạch xong là ngã lăn ra ngay. Một gã môn nhân đã nhanh chân chạy vào cửa sảnh báo tin nên mặt lão Hầu Gia và mọi người tái mét. Hà Hồng Hương và Lạc Bình thét lên, ngất xỉu ngay. Họ đã mỏi mòn chờ đợi, lo lắng nên giờ đây không còn đủ sức để chịu đựng hung tin nữa!
    Tiểu Thuần lặng lẽ quỳ xuống cạnh hòm gỗ. Khi Mộ Dung Cẩn, Bạch Nguyên Giáp, Chu Minh bước đến, nàng sụp lạy:
    - Tiện nữ Tiểu Thuần bái kiến Lão Hầu Gia và các trưởng bối!
    Mộ Dung Cẩn thẩn thờ nhìn chiếc hòm gỗ mộc mạc, đau xót vô vàn. Ông ngửa cổ than trời:
    - Lão phu suốt đời hành thiện sao hoàng thiên nỡ đối xử thế này? Thanh nhi tuổi chưa đến hai mươi mà đã chết thảm, không có được một chiếc quan tài cho đúng lẽ!
    Tiểu Thuần vội nói:
    - Bẩm Lão Hầu Gia, Hãn Thanh vẫn còn sống!
    Câu nói của nàng khiến mọi người vui mừng khôn xiết, nhưng lại giật mình khi thấy Tiểu Thuần gục ngã.
    Mộ Dung Cẩn kinh hãi hỏi:
    - Nàng ta sao vậy?
    Tứ Vệ Mễ Bất Thông vẫn nằm sóng soài, cố gượng trả lời:
    - Suốt tháng nay, Trịnh phu nhân không hề ngủ!
    Thiết Địch Thần Y ngồi xuống thăm mạch, gật gù:
    - Đúng vậy! Nàng chỉ thiếu ngủ mà thôi! Mau cho tỳ nữ khiêng vào phòng!
    Hai ả tỳ nữ vội đỡ Tiểu Thuần, dìu vào phòng Hãn Thanh. Viên Nguyệt Hằng Nga và Ngũ Đài Ma Cơ cũng đã hồi tỉnh, nghe nói trượng phu còn sống, vội chạy đến, ôm hòm khóc nức nở.
    Tam Vệ bực dọc nói:
    - Khóc lóc chỉ tổ phí thời gian. Sao không gọi lão Bạch Thần Y đến đây?
    Bạch Nguyên Giáp biết ngay bệnh tình của Hãn Thanh rất nguy kịch, nếu không đã có thể chở bằng xe thay vì phải vác.
    Ôn gạt hai nữ nhân ra mở nắp hòm thăm mạch. Sắc mặt Bạch Thần Y tái mét như tàu lá, gọi Nhất Bất Thông phụ một tay, đưa ngay hòm gỗ vào trong!
    Một gã môn nhân nói nhỏ với Mộ Dung Cẩn:
    - Bẩm lão Hầu Gia! Trong xe còn có hai hán tử nữa đang ngủ li bì!
    Mộ Dung Cẩn biết ngay là bốn gã này đã thay phiên vác cháu mình vượt quãng đường gần hai ngàn dặm từ Phong Độ về Lạc Dương ! Ông cảm kích nói:
    - Bọn ngươi mau dìu họ vào hậu viện nghỉ ngơi và đối xử như thượng khách!
    Năm ngày sau, nhờ tài y thuật tuyệt thế, Bạch Nguyên Giáp đã vãn hồi được mạng sống của Hãn Thanh. Vừa mở mắt ra, chàng đã hỏi ngay:
    - Tiểu Thuần ở đâu?
    Mộ Dung Cẩn cười mà mắt nhòa lệ:
    - Thanh nhi yên tâm! Cháu dâu trưởng của nhà Mộ Dung đang có mặt trong Hầu Phủ!
    Ông lui ra cho ba nữ nhân đến bên giường. Hai nàng kia nhường Tiểu Thuần đi trước. Hãn Thanh gượng nói:
    - Các nàng cùng đến đây, ta có lời muốn nói!
    Ba giai nhân sa lệ quì xuống cạnh giường. Hãn Thanh vuốt tóc họ rồi mỉm cười:
    - Ta may mắn có được đến bốn vị phu nhân xinh đẹp, chẳng dại gì mà chết sớm. Nhưng nếu chẳng may không qua khỏi các nàng hãy vì ta mà đi Bắc Kinh giết cho bằng được lão gian thần Hải Trường Công Chu Kích để trừ họa cho xã tắc. Năm xưa, ta đã từng ghé qua Quả Phụ Thôn, nên rất hiểu tình cảnh thê lương của những người đàn bà góa bụa. Vì vậy, nếu muốn ta yên tâm nhắm mắt, các nàng hãy lấy chồng cho khỏi uổng phí kiếp hồng nhan!
    Ba nàng bật khóc, không nói nên lời. Thiết Địch Thần Y gượng cười:
    - Thanh nhi chớ nên bi quan, lão phu không cứu được ngươi thì cũng chẳng sống làm gì? Không lẽ cái danh Thần Y này chỉ là giả sao?
    Hãn Thanh ngượng ngùng đáp:
    - Tiểu điệt không có ý xem thường y thuật của lão bá, chỉ vì phòng xa nên mới dặn dò trước thế thôi!
    Lão Hầu Gia rất tin tưởng tài nghệ của họ Bạch nên chỉ quan tâm đến Hải Trường Công. Ông cau mày hỏi:
    - Tại sao Thanh nhi lại muốn giết Tổng Đốc Sơn Đông Chu Kích?
    Tiểu Thuần đỡ lời:
    - Bẩm Gia Gia! Tôn tức có nghe U Linh Tứ Vệ kể qua việc này! Nghe nói hoàng thân Chu Kích đã lấy đưọc bản địa đồ Kim Ngọc Bồng Lai Đảo. Tháng mười một này lão ta sẽ dương bườm ra Đông Hải, nếu thành công tất sẽ có điều kiện tạo phản!
    Họ Mộ Dung tuy không làm quan nhưng một lòng trung nghĩa với triều đình, xã tắc. Lão Hầu Gia nghe xong biến sắc, trợn mắt nói:
    - Giỏi cho Chu Kích! Lão phu sẽ thượng kinh ngay để tấu lên thánh thượng trị tội kẻ phản thần!
    Nhất Bất Thông cười mát:
    - Chu Kích là hoàng thân quốc thích, được hoàng thượng sủng ái, giao cho nắm binh quyền đất Sơn Đông. Nếu không có chứng cứ cụ thể, lão Hầu Gia có đi cũng chỉ hoài công và mang họa vào thân thôi!
    Mộ Dung Cẩn buồn rầu vì biết Chu Minh nói rất chí lý.
    Hãn Thanh bỗng nói:
    - Bạch lão bá! Phải mất bao nhiêu ngày tiểu điệt mới hồi phục hoàn toàn?
    Thiết Địch Thần Y nghiêm giọng:
    - Chỉ bảy ngày là ngươi có thể sinh hoạt bình thường, nhưng việc khôi phục võ công thì cần có kỳ trân hãn thế như Thiên Niên Hà Thủ Ô, Thiên Niên Tuyết Sâm.... mới được!
    Hãn Thanh mỉm cười:
    - Sao lão bá không cho người đi U Linh Cốc xin một miếng Bạch Hỏa Quả? Chẳng lẽ Tề nhạc phụ lại tiếc với con rể?
    Thần Y thở dài:
    - Nửa tháng trước, Lục Phán Quan có ghé Hầu Phủ, báo rằng Tề Tổng Giám đã đến ém Dương Linh Cảnh nhưng không sao qua được cửa ải cuối cùng. Họ vẫn bám trụ nơi ấy, cố tìm cách vào chẳng được. Dẫu họ lấy được Linh Quả thì cũng không thể cho ngươi vì ngươi cẩn cả trái chứ không phải một phần!
    Tiểu Thuần hiếu kỳ hỏi:
    - Bạch lão bá! Chẳng hay cửa ải ấy có gì lạ?
    Năm năm trước, lão phu đã tìm ra ém Dương Linh Cảnh, nhờ có họa đồ nên qua được Thạch trận phía trước. Nhưng khi vào đến đoạn đường hẹp ở cửa thạch động thì bị những luồng gió mạnh như vũ bão đẩy bật ra. Thấp thoáng bên trong là những bóng ma trắng toát qua lại, thay phiên giáng chưởng. Thân pháp họ nhanh đến mức không tưởng nên chẳng thể là người được!
    Đêm ấy, Tiểu Thuần nói với Hãn Thanh:
    - Thiếp sẽ đi Hồ Sơn hái Bạch Hỏa Quả cho tướng công dùng!
    Chàng cười đáp:
    - Ta đã tặng Linh Quả cho U Linh Cốc. Nay nàng đi đến đấy tất sẽ xảy ra tương tranh. Bằng như nàng hái được cũng sẽ khiến ta trở thành bất nghĩa. Dù ta mất hết võ công cũng vui vẻ sống với các nàng. Đâu cần phải gây khó xử cho Tề Đạm Vân như vậy? Hay là nàng không thích có một trượng phu bạc nhược như ta?
    Ba nàng hết lời phân minh, không nhắc gì đến Bạch Hỏa Quả nữa.
    Nhưng bốn ngày sau, bệnh tình Hãn Thanh trở nặng, mê man bất tỉnh như lúc đầu. Bạch Thần Y rầu rĩ nói:
    - Giờ đây chỉ có Bạch Hỏa Quả mới cứu được Hãn Thanh mà thôi!
    Lão Hầu Gia buồn bã bảo:
    - Sinh tử hữu bệnh, hà tất phải cố làm điều bất tín để níu kéo cuộc sống.
    Chẳng lẽ lại đánh nhau với thông gia mà dành lấy Linh Quả?
    Dù nói vậy nhưng lòng già như đứt từng đoạn một, ông bỏ vào trai đường tọa thiền, không dám ở lại nhìn cháu yêu chết dần.
    Tuy nhiên, đám nữ nhân không dễ dàng chịu thua số phận. Họ chẳng cần để ý đến điều tín nghĩa, chỉ cần cứu cho được trượng phu.
    Ba nàng bàn bạc đến tận nửa đêm, và sáng hôm sau, Hầu Phủ náo loạn vì sự biến mất của Tiểu Hầu Gia và các phu nhân. Cả Thiết Địch Thần Y và U Linh Tứ Vệ cũng vậy!
    Chu Minh cười khà khà, nói với Lão Hầu Gia:
    - Khổng Tử từng nói rằng:
    Đàn bà và kẻ tiểu nhân là khó lường nhất!
    Không chừng ba con nha đầu kia sẽ cứu được Thanh nhi đấy!
    Mộ Dung Cẩn mỉm cười:
    - Thực ra lão phu cũng đã tiên đoán việc này! Hơn nữa, phương trượng Thiếu Lâm Tự, Thiện Hội Thiền Sư đã từng xem tướng Hãn Thanh ngay lần đầu gặp gỡ. Ông ta bảo rằng số Thanh nhi rất thọ. Chính vì vậy lão phu mới dám để y một mình đi Tứ Xuyên.
    Chu Minh dơ ngón tay cái lên tán dương:
    - Đúng là gừng càng già càng cay! Tiểu điệt xin bái phục!
    Mộ Dung Cẩn ngượng ngùng:
    - Lão phu chỉ có một mình Thanh nhi là ruột thịt, nên đành phải quyền biến, dùng kế khích tướng để tránh tiếng xấu thế thôi!
    Lần này sinh cơ của Hãn Thanh không đến nỗi mong manh như lần trước, lại có Thiết Địch Thần Y chăm sóc, nên chàng được chuyển đi bằng xe ngựa.
    Đây là cỗ xe đặc biệt, dành riêng cho Lão Hầu Gia nên rất rộng và êm ái.
    Ba nữ nhân ở cả trong thùng xe với Hãn Thanh, còn Bạch Thần Y và U Linh Tứ Vệ thay nhau làm xà ích!
    Bạch Nguyên Giáp không có con nên vẩn âm thầm xem Hãn Thanh là nam tử của mình. Vả lại, chàng cũng là ân nhân của ông. Do vậy, khi nghe ba nàng trình bày kế hoạch, ông nhận lời ngay!
    Tuy Hãn Thanh đang lâm trọng bệnh, nhưng cuộc hành trình khiến ba nữ nhân thư thái hơn ở lại nhìn trượng phu đi vào cõi chết.
    Ghế trong thùng xe đã được gỡ bỏ, để họ có thể nằm song song với nhau.
    Tình cảm giữa ba nữ nhân chung thuyền ngày càng thắm thiết.
    Tiểu Thuần tuy ít nói, ánh mắt khoan dung nhưng lại được hai nàng kia tôn kính và yêu mến. Dẫu sao, Tiểu Thuần cũng là chính thất của Hãn Thanh.
    Mối tình giữa nàng và Hãn Thanh sâu nặng và đẹp lạ lùng!
    Theo sau họ là cỗ xe mui kín thứ hai, dành làm chỗ nghỉ ngơi, tá túc cho đám nam nhân. Sau lần đưa Hãn Thanh vượt hơn ngàn dặm bằng đôi chân, Tứ Vệ được cả Hầu Phủ quí mến và coi trọng!
    Lão Hầu Gia đã thưởng riêng cho mỗi gã hai ngàn lượng bạc, khiến họ vô cùng khoan khoái. Giờ lại được tháp tùng trong chuyến này. Tứ Vệ tự nhủ sẽ phát tài to nếu Hãn Thanh bình phục trở về!
    Nhân lúc phiên Bạch Thần Y làm xà ích xe trước, bốn gã Quỷ Tốt bàn bạc sôi nổi. Tam Vệ hớn hở nói:
    - Nếu Thiếu Tổng Giám tai qua nạn khỏi, tiểu đệ sẽ xin Lão Hầu Gia gã bọn nữ tỳ trong phủ cho anh em ta!
    Tứ Vệ cười hì hì hỏi lại:
    - Đấy quả là ý hay. Nhưng Tam ca định lấy một hay hai vợ?
    Tam Vệ Lộ Vi Nhân là gã ngốc nhất bọn, không hiểu ý mai mỉa nên đắc ý đáp:
    - Tứ Vệ nói phải! Trai anh hùng năm thê bảy thiếp, công tử cũng có đến bốn vợ, vậy chúng ta cũng nên cưới hai ba nàng một lúc cho đáng mặt trượng phu!
    Ba gã kia phá lên cười:
    - Một ả còn đối phó không xong, ba vợ chắc ngươi bị họ xé ra thành từng mảnh mất!
    Nhất Vệ là người cẩn trọng suy nghĩ sâu xa, gã nghiêm sắc mặt bảo:
    - Các ngươi không nghĩ đến lúc đối mặt với Tổng Giám và Nhị Phán Quan sao?
    Quách Phủ cười nhạt:
    - Theo ý đệ, chúng ta cứ nhờ tam vị phu nhân cáo giác việc này với Tề tiểu thư, để nàng âm thầm cảnh báo Tổng Giám. Khi cần đối chất thì chúng ta mới xuất hiện.
    Nhị Vệ thông minh hơn cả nên ý gã được tán thành!
    Đúng ngày hai mươi hai tháng chín, bọn Tiểu Thuần vượt Hoàng Hà, rời đất Sơn Tây đi sang Thiểm Tây. Nhánh phải sông Hoàng Chính là ranh giới giữa hai địa phương này.
    Nhưng cả hai bên bờ sông cùng là đất Hoàng Thổ nên chẳng khác gì nhau. Cảnh vật mùa thu đã tiêu điều, lại bị phủ lớp bụi đất vàng dơ bẩn, càng thêm xơ xác.
    Mặt đất bị nước mưa chia cắt, sông ngòi đào xới, tạo thành những bậc thềm có độ cao khác nhau Từ vài trượng đến vài chục trượng, làng mạc, đường sá, ruộng đồng hầu hết đều được phân bố trên các thềm ấy.
    Và kỳ lạ hơn nữa, ở vùng cao nguyên Hoàng Thổ này, muốn tìm mái nhà cũng khó, vì bách tính thường khoét sâu các sườn thung lũng mà làm nơi cư trú.
    Nhờ những cơn mưa cuối thu nên đất không đến nỗi quá khô mà tan thành bụi, theo gió vỗ vào khách lữ hành. Nếu là mùa hạ thì ba nữ nhân sẽ được nếm mùi những cơn bão đầy cát bụi.
    Trưa hôm sau, trước mặt đoàn lữ hành hiện ra một đoạn trường thành sụp lở. Đây là Trường Thành của nước Tần thời xưa, kéo dài gần hai ngàn dặm từ Lâm Thao Phía Nam sông Vị Đến phía Bắc tỉnh Sơn Tây. Đến thời nhà Minh thì lãnh thỗ Trung Quốc đã bao gồm cả đất Hà Tây nên đoạn Trường Thành này không cón tác dụng nữa, dần dần bị hủy hoại.
    Đêm ấy, bôn Tiểu Thuần nghỉ lại trong một hẻm vực chờ sáng lên đường.
    Và chiều hai mươi bốn, họ đến Du Lâm, vào khách điếm nghỉ ngơi.
    Từ trên lan can lầu, Bạch Thần Y chỉ cho mọi người thấy rặng núi Hồ Sơn ở phía Tây Nam. Còn hướng Tây chính là Vạn Lý Trường Thành sửng sững. Cách Du Lâm chừng ba chục dặm. Bên kia Trường Thành là đất Nội Mông!
    Gió thu se sắt, trăm hoa tàn úa, nhưng dưới khu vườn quanh lữ điếm, người bụi cúc vàng, trắng vẫn còn khoe sắc, cho đến tận đầu Đông!
    Giờ đã sắp cuối thu, bảo sao Tiểu Thuần không buồn khi ngắm nhìn kiếp sống sắp tàn của loài hoa? Nàng là người kín đáo, trầm lặng, tâm hồnnhạy cảm nên vì hoa mà nhớ đến người! Hãn Thanh nào khác gì những bông cúc buổi tàn thu?
    Bỗng Ngũ Đài Ma Cơ Lạc Bình thở dài não nuột:
    - Trịng đại thư! Mùa thu ở vùng Tây Bắc quả là lạnh lẽo và thê lương, tiểu muội nhìn hoa mà chẳng thấy vui.
    Tiểu Thuần mỉm cười, buồn bã quàng tay siết chặt vai nàng.
    Ba người trở vào trong chăm sóc Hãn Thanh. Nhìn gương mặt xanh xao và lồng ngực nhấp nhô vì hơi thở đứt đoạn, Hà Hồng Hương sa lệ lẩm bẩm:
    - Tướng công tưởng rằng thiếp có thể tái giá được sao? Thiếp cũng như hoa cúc, chỉ nở với mùa thu mà thôi!
    Theo đúng kế hoạch đã định, cuối canh tư đoàn người đã lên đường. Họ gởi hai cỗ xe lại khách điếm và Hãn Thanh được Tiểu Thuần bồng trên tay.
    Bạch Thần Y đã từng ở Hồ Sơn một tháng nên rất thông thạo địa hình, địa vật, ông đưa đoàn người vượt qua thạch trận, vào một động đá tren sườn núi, cách cửa ém Dương Linh Cảnh chừng vài chục trượng. Từ vị trí này, họ có thể nhìn thấy năm chiếc lều vải lớn của phe U Linh Cốc.
    Đối diện với các lều vải là vách đá dựng đứng, có động khẩu đưa vào Băng Hỏa Đàm, nơi Linh Quảtỏa hương. Tuy Đông chưa đến mà đỉnh của rặng Hồ Sơn phủ đầy tuyết thắng. Nhưng lạ thay, thung lũng chân núi lại ấm áp, cỏ cây tươi tốt như đang mùa xuân!
    Khắp nơi, những cây Mễ Lan già nua, cao đến hai trượng, đang trổ hoa vàng rực, và thơm ngát.
    Mễ Lan là loài hoa nở hai kỳ, mùa hạ và mùa thu, thích hợp với khí hậu ấm áp ở miền Nam Trường Giang. Thế mà chúng lại xanh tốt ở chốn này, chứng tỏ ém Dương Linh Cảnh là vùng đất có một không hai.
    Bọn Tiểu Thuần ăn điểm tâm bằng lương khô, giao Hãn Thanh cho Hà Hồng Hương giữ và ba gã U Linh Tứ Vệ chăm nom rồi tiến về các liều trại.
    Dưới gốc Mễ Lan là những bụi rậm rất dầy, che dấu hành tung của bốn người, Tiểu Thuần, Lạc Bình, Bạch Thần Y và Nhất Vệ lặng lẽ quan sát tình hình, từ khoảng cách tám trượng.
    Tiếng gà rừng gáy vang, đánh thức mọi người trong lều vải. Họ thức giấc, bước ra ngoài, múa vài đường quyền cho dãn gân cốt. Bọn quỉ tốt gần mười tên mau mán gầy lửa nấu bữa sáng. Còn Bắc Thiên Quỷ Hồ Tổng Giám Tề Phi Tuyết và ba vị Phán Quan rửa mặt xong, ngồi xuống những tảng đá mà bàn bạc!
    Nhất Vệ Đặng Thám giới thiệu:
    - Tề Tổng Giám là lão nhân mặt đỏ, cao lớn, tóc hoa râm. Người cao gầy ngồi cạnh Tổng Giám là Nhị Phán Quan Hồ Vượng. Còn lão bà mập mạp kia là Tam Phán Quan Lâm Trúc Bạch và Tứ Phán Quan Lâm Hiểu Ngộ.
    Lạc Bình thấy dung mạo hai lão bà khá giống nhau nên hỏi lại:
    - Họ là chị em hay sao?
    Nhất Vệ xác nhận:
    - Bẩm phu nhân, đúng vậy!
    Tiểu Thuần cau mày:
    - Sao không thấy Tề tiểu thư đâu nhỉ?
    Hà Hồng Hương hậm hực ứng tiếng:
    - Tiểu muội thấy chiếc liều mé tả chưa ai chui ra, có lẽ Tề Đạm Vân vẫn còn yên giấc! Nàng ta thật là sung sướng. Chỉ có chị em ta là khổ mà thôi:
    Viên Nguyệt Hằng Nga không dám ghen với Tiểu Thuần và Lạc Bình nhưng lại có ác cảm với người vợ thứ tư của Hãn Thanh dù chưa hề biết mặt.
    Đạm Vân lấy được chồng quá dễ dàng, trong khi nàng phải chật vật lắm mới trở thành vợ Hãn Thanh. Tề tiểu thư lại không phải khổ cực và lo lắng cho phu tướng như ba nàng!
    Tiểu Thuần dịu giọng:
    - Đạm Vân không biết nên mới thảnh thơi như vậy! Nhưng lỡ tướng công có mệnh hệ gì thì nàng cũng lâm vào cảnh góa bụa thương tâm như chị em ta mà thôi! Hương muội hà tất phải đố kỵ làm gì!
    Hồng Hương rất kính sợ Tiểu Thuần nên ngượng ngùng nói:
    - Tiểu muội hẹp hòi thật đáng xấu hổ! Mong đại thư tha lỗi!
    Bỗng từ phía ngoài có một nữ lang chạy vào, trên vai là một con nai tơ béo tròn. Mồ hôi lấm tám trên gương mặt đỏ hồng, chứng tỏ nàng đã phải phí sức rất nhiều.
    Lạc Bình cười bảo:
    - Té ra Đạm Vân rất kiều diễm, siêng năng. Nàng đã dậy sớm để đi săn!
    Hồng Hương cũng phải công nhận Đạm Vân xinh đẹp phi thường. Nỗi ghen hờn lại dâng lên, nàng cười nhạt:
    - Đạm Vân tuy đẹp hơn tiểu muội nhưng đâu thể sánh với đại thư và nhị thư?
    Lạc Bình phì cười, tát yêu vào má Hồng Hương:
    - Hương muội quả là trẻ con nên mới ghen hờn vô cớ như vậy. Tướng công biết được sẽ không vui đâu!
    Viên Nguyệt Hằng Nga sợ hãi không dám bình phẩm nữa.
    Lúc này, Tề Đạm Vân đã giao trọn con vật cho bọn quỉ tốt. Nàng đến bên Tề Tổng Giám, phụng phịu nói:
    - Phụ thân! Hài nhi nghe lòng nóng như lửa đốt, linh cảm Hãn Thanh đã gặp chuyện chẳng lành! Xin người cho hài nhi được đi Lạc Dương xem sao!
    Nhị Phán Quan vui vẻ ủng hộ:
    - Vân nhi đã được gả về làm dâu họ Mộ Dung cũng nên đến Hầu Phủ bái kiến Lão Hầu Gia! Việc săn bắn, nấu nướng đã có các đệ tử lo toan!
    Tề Tuyết Phi mỉm cười:
    - Thôi được! Con cứ đi đi! Nếu không Hãn Thanh sẽ oán lão phu mất!
    Tề Đạm Vân mừng rỡ trở vào lều thu xếp hành lý, lát sau nàng cáo biệt trưởng bối, lướt nhanh về hướng Nam.
    Tiểu Thuần dặn dò ba người kia rồi đuổi theo. Khinh công của nàng cao cường hơn ®o ®nh Thân Pháp nên bắt kịp Đạm Vân ở ngoài thạch trận.
    Tề tiểu thư đang chạy ngon trớn bỗng thấy trước mặt hiện ra một bóng trắng. Đạm Vân cảnh giác dừng lại. Nhận ra bóng ấy là một nữ lang tóc xõa, da mặt hơi xanh nhưng dung nhan cực kỳ diễm lệ.
    Bạch y nữ nhân kia có ánh mắt hòa ái, thân thiết khiến Đạm Vân ngỡ ngàng vì song phương chưa hề quen biết. Bỗng nàng có một linh cảm lạ lùng rằng đối phương phải là một trong hai người vợ của Hãn Thanh. Chỉ có chàng mới xứng đáng làm trượng phu của một bậc đại hồng nhan như thế!
    Trong bảy ngày dưỡng thương ở U Linh Cốc, Hãn Thanh luôn miệng gọi tên Tiểu Thuần, Lạc Bình khiến Đạm Vân biết tên họ. Nàng ngượng ngùng hỏi:
    - Đại thư là ai mà lại chặn đường tiểu muội?
    Nữ lang kia mỉm cười:
    - Ngu tỷ là Tiểu Thuần, chẳng hay hiền muội đã từng nghe qua chưa?
    Đạm Vân vui mừng khôn xiết nghiêng mình bái kiến:
    - Tiểu muội Tề Đạm Vân xin ra mắt đại thư!
    Tiểu Thuần lướt đến ôm chặt Đạm Vân thì thầm:
    - Ta rất hài lòng khi được chung thuyền với hiền muội!
    Đạm Vân nghe niềm cảm kích dâng tràn. Tiểu Thuần là người đến trước mà không hề ghen hờn, chấp nhận nàng một cách ân cần!
    Tiểu Thuần nói tiếp:
    - Phải chăng hiền muội đang định đến Lạc Dương tìm tướng công?
    Đạm Vân vui vẻ đáp:
    - Đại thư đã ở đây thì chắc tướng công cũng không xa!
    Tiểu Thuần thản nhiên gật đầu:
    - Đúng vậy! Vân muội hãy đi theo ngu tỷ, tướng công đang có mặt ở Hồ Sơn này!
    Hai nữ nhân lướt đi như gió thoảng, nửa khắc sau đã về đến thạch động, trên sườn núi! Tề Đạm Vân thấy Hãn Thanh nằm im lìm trên sàn, hai mắt nhắm nghiền, sắc diện tái nhợt như người đã chết, gượng chào Hà Hồng Hương rồi phục xuống khóc ròng! Dọc đường Tiểu Thuần đã kể sơ về việc Hãn Thanh bị Quanh Minh Tôn Giả độc kế, đánh rơi xuống vực thẳm Dương Sơn, và chàng sẽ chết nếu không có Bạch Hỏa Quả!
    Đạm Vân rú lên thảm thiết đến nổi Viên Nguyệt Hằng Nga mũi lòng, thương đối phương cũng cùng cảnh ngộ sắp mất chồng như mình. Hồng Hương buồn rầu nói:
    - Tề thư thư khóc cũng vô ích thôi! Phải tỉnh táo mà tính toán việc đoạt lấy Bạch Hỏa Quả để cứu lấy tướng công!
    Đạm Vân gạt lệ nngẩng lên:

  9. #28
    Join Date
    Sep 2010
    Bài Viết
    51,725
    Thanks
    1
    Được Cám Ơn 26 Lần
    Trong 26 Bài Viết
    - Hương muội nói phải, nhưng ta nghĩ rằng vô vọng! Gia phụ cùng ba Phán Quan đã nhiều lần liên thủ xông vào mà đều bị đánh bật ra!
    Tiểu Thuần hỏi ngay:
    - Thế lệnh tôn có các định là người hay ma quỷ gì không?
    Đạm Vân gật đầu:
    - Gia phụ đã từng tiến sâu vào đến tận cuối đường thông lộ đối chưởng với các bóng trắng. Người khẳng định ràng họ là những cao thủ võ lâm vì chưởng pháp có chiêu thức mạch lạc chứ không phải đánh bừa.
    Lúc này, Bạch Nguyên Giáp và Lạc Bình đã về đến, chỉ còn Nhất Vệ Ở lại do thám khu lều trại. Ngũ Đài Ma Cơ xuất hiện khiến Đạm Vân giật mình, trước đây Hãn Thanh nói mình chỉ có hai vợ Ở nhà, sao nay lại hóa ba? Nhưng trong tình thế này, chẳng ai còn tâm trí đâu mà thắc mắc nữa, hai người chào hỏi nhau rất thân tình.
    Tiểu Thuần giới thiệu cả Thiết Địch Thần Y, Đạm Vân vội nghiêng mình thi lễ. Bạch Nguyên Giáp hỏi ngay:
    - U Linh Cốc có chất độc Vụ Tảo Thiên Quân danh lừng thiên hạ sao không dùng để mở đường vào Băng Hỏa Đàm?
    Đạm Vân kính cẩn đáp:
    - Bẫm lão bá! Nhị Phán Quan đã ném vào trong hàng chục trái độc cầu mà chẳng hề có tác dụng. Dường như những bóng trắng kia không sợ độc!
    Bạch Thần Y nghiêm giọng:
    - Lão phu đã có cách vào được nhưng không hiểu lập trường của cô như thế nào?
    Đạm Vân chính sắc đáp:
    - Tiện nữ đây đã là người họ Mộ Dung, tất phải một dạ vì phu tướng. Hơn nữa, việc dùng Bạch Hỏa Quả để chế tạo tiên đơn có vẻ như hoang đường và không cần thiết, tuy nhiên tiện nữ không tiện ra mặt tranh đoạt với gia phụ, xin ở lại đây đê bảo vệ tướng công!
    Mọi người đều hài lòng trước ý kiến của Đạm Vân!
    Bỗng Nhất Vệ Đặng Thám hớt hãi chạy về:
    - Nguy rồi! Có một toán cao thủ lạ mặt, đông đến hàng trăm người đã vượt qua thạch trận, hiện đang vây chặt phe U Linh Cốc. Thuộc hạ chỉ nhận ra Đông Nhạc Thần Đao, kẻ đã từng cùng Kim Thạch Tà Tẩu chặn đường Tây Hạ Ma Đao Uông Vô Hồi!
    Bạch Thần Y biến sắc:
    - Lạ thực! Sao Thần Tiên Giáo lại biết vị trí của ém Dương Linh Cảnh mà đến nơi?
    Nhị Vệ Quách Phủ lúng túng nói:
    - Bẩm lão gia! Đệ tử cho rằng việc này do Nhị Phán Quan Hồ Vượng tiết lộ!
    Đạm Vân kinh hãi hỏi:
    - Sao ngươi lại nói vậy?
    Quách Phủ liền kể lại chuyện chứng kiến Hồ Phán Quan quỳ trước mặt Hải Hà Tiên Tử, thề sẽ trung thành với mụ suốt đời. Đạm Vân tái mặt:
    - Như vậy thì gia phụ nguy rồi. Chúng ta phải ra nhanh mới được.
    Tiểu Thuần phân phó Hà Hồng Hương ở lại với Hãn Thanh, vị này có võ công kém nhứt.
    Bạch Thần Y tư mlự bảo:
    - Thần Tiên Giáo đến đây tức là không còn e sợ chất độc Vụ Tảo Thiên Quân của U Linh Cốc! Có lẽ Hồ Phán Quan đã dạy cho họ cách điều chế giải dược.
    Vì vậy lão phu sẽ trang bị cho các ngươi một loại kỳ độc khác mới mong thắng được trận này!
    Lão mở bọc hành lý lấy ra một túi to lớn, đựng đầy những trái cầu màu xanh, nhỏ bằng trái nhãn, chia cho mọi người dặn dò:
    - Đây là một mê dược mãnh liệt nhất thế gian, công hiệu tức tgời, các ngươi chỉ cần bóp nát ra mà rải theo chưởng phong.
    Bạch lão lại cho mỗi người một viên giải dược rồi dẫn họ tiến về phía đấu trường.
    Khi họ đến nơi thì cuộc chiến chưa diễn ra, mà vẫn còn trong giai đoạn tranh cãi.
    Bọn Tiểu Thuần phục sau những bụi cây quan sát, giật mình nhận ra Thần Tiên Giáo đã kéo hết lục lượng chủ chốt đến đây.
    Đạm Vân thì thầm:
    - Nữ lang áo vàng tuổi đôi mươi kia chính là Hải Hà Tiên Tử đấy!
    Tiểu Thuần thở dài:
    - Không hiểu bà ta luyện môn thần công gì mà luôn giữ được tuổi thanh xuân như vậy? Ai dám bảo Tiên Tử đã bát tuần!
    Ngoài Mai Thanh Phố còn có Quang Minh Tôn Giả, Đông Nhạc Thần Đao, Bắc Nhạc Quỷ Trảo.
    Lúc này Bắc Thiên Quỷ Hồ Tổng Giám Tề Phi Tuyết đang gằn giọng hỏi:
    - Mai giáo chủ! Việc bà muốn chia đôi Bạch Hỏa Quả với U Linh Cốc là không thể được! Kỳ vật này rất quan trọng đối với mấy trăm đệ tử ém Dương Đạo!
    Hải Hà Tiên Tử cười yêu mị:
    - Chẳng lẽ Tề Tổng Giám không nghĩ đến kỹ niệm một đêm ân ái mặn nồng hay sao?
    Tề Tổng Giám cười nhạt:
    - Tấm thân tiên nữ hoa tàn kia có gì quý giá mà bảo lão phu phải nhớ đến? Bà đã ngủ với hàng trăm nam nhân đâu phải chỉ với mình lão phu?
    Mai Thanh Phố bị thóa mạ, biến sắc rít lên:
    - Lão dám lăng nhục ta thì đừng hòng sống sót nữa!
    Tề Phi Tuyết cười vang:
    - Dù phe mụ có đông cách mấy cũng không chống lại nổi ®o ®nh Thân Pháp và chất kỳ độc Vụ Tảo Thiên Quân!
    Tiên Tử ôm bụng cười rũ rượi:
    - Bổn giáo đã có giải dược trong tay, nào có sợ gì trò trẻ con đó?
    Tề Tổng Giám kinh hãi quay sang định hỏi Nhị Phán Quan Hồ Vượng thì đã bị họ Hồ đặt hữu thủ vào huyệt Linh Đài trên xương sống. Huyệt này nằm ngay vị trí của tim, thuộc mạch đốc, và là tử huyệt của những người luyện Ma Hồ Chân Khí.
    Hồ Phán Quan mỉm cười gian xảo:
    - Tổng Giám đại ca! Tiểu đệ không còn muốn thành tiên nữa. Nên đã qui phục dưới trướng Mai giáo chủ mà thọ hưởng lạc thú nhân gian.
    Tề Phi Tuyết chua xót đến nghẹn lời, mặt trắng bệch vì uất ức, cuối cùng ông mới nói được:
    - Sao ngươi không nghĩ đến công lao tu luyện bao nhiêu năm, chỉ cần lấy được Bạch Hỏa Quả là Bạch Nhật Phi Thăng?
    Hồ Phán Quan cười rộ:
    - Tổng Giám là người thông tuệ, sao lại tự lừa dối mình như vậy? Ngay Lão Tử, Trang Tử còn không thành tiên được, huống hồ gì chúng ta?
    Đạm Vân thấy sinh mạng phụ thân bị uy hiếp, lệ rơi lã chã, nhưng không dám khóc lớn. Tiểu Thuần liền vỗ về:
    - Xem ra lão họ Hồ không dám giết lệnh tôn đâu, Vân muội hãy bình tâm!
    Đạm Vân gật đầu, tiếp tục quan sát. Lúc này Tề Phi Tuyết đang hỉi Tam, Tứ Phán Quan:
    - Còn lòng dạ nhị vị thế nào?
    Hồ Vượng cướp lời:
    - Họ đã là tình nhân của tiểu đệ từ lâu, nếu không đâu có mặt ở nơi này?
    Hai bà lão mặt đỏ hồng, bước đến sau lưng họ Hồ tỏ vẻ thuần phục, Tề Phi Tuyết thở dài ngao ngán:
    - Nhân tình thế thái đáng sợ thay! Lão phu cũng chẳng còn ham sống nữa!
    Quang Minh Tôn Giả mỉm cười:
    - Bổn giáo vẫn nhớ ơn Tổng Giám đã đồng ý cho Hồ Phán Quan nối lại bàn tay cho giáo chủ, vì vậy, sẽ không đụng đến sinh mạng của Tổng Giám.
    Chỉ cần Tổng Giám lập trọng thệ, thề sẽ đóng cửa U Linh Cốc và không bao giờ đối nghịch với Thần Tiên Giáo.
    Tề Phi Tuyết suy nghĩ một lúc rồi gật gù:
    - Đạo gia chủ trương Tiên Bảo Kỳ Thân, lão phu lại chẳng ôm tham vọng xưng hùng, có đóng cửa Cốc mà tu luyện cũng là hợp lý.
    Họ Tề dơ tay phải thề rằng:
    - Lão phu là Bắc Thiên Quỷ Hồ Tổng Giám, thề sẽ suốt đời không va chạm tới Thần Tiên Giáo!
    Hải Hà Tiên Tử hài lòng cười khanh khách:
    - Tốt lắm! Nhưng để phòng xa, phiền Hồ Phán Quan phế võ công của Tề Tổng Giám!
    Nhưng Hồ Vượng chưa kịp ra tay thì Tứ Phán Quan Lâm Hiểu Ngộ đã vung chưởng vỗ vào đầu lão ta. Dĩ nhiên thủ cấp họ Hồ vỡ toang như trái dưa chín.
    Tam Phán Quan Lâm Trúc Bạch hét lên:
    - Tổng Giám đại ca! Chúng ta liên thủ mà chống cự!
    Đông Nhạc Thần Đao cười nhạt:
    - Chẳng lẽ Tổng Giám đã thề mà lại nuốt lời!
    Tề Phi Tuyết cười vang:
    - Lão phu chỉ cần từ chức Tổng Giám, giao lại cho rể quí là Mộ Dung Hãn Thanh, thì sao gọi là vi phạm lời hứa?
    Quang Minh Tôn Giả hừ nhẹ:
    - Có lẽ lão phải tìm rể khác, vì tiểu tử Mộ Dung đã bị lão phu giết chết ở Tứ Xuyên rồi.
    Tề Tổng Giám gầm vang:
    - Thế thì ngươi phải đền mạng cho hiền tế của ta!
    Dứt lời, thân ảnh lão hóa thành chiếc bóng mờ lao đến nhanh như ánh chớp, chưởng ảnh giăng mắc không gian dường như uy hiếp cả ba mươi sáu đại huyệt trên thân trước đối phương.
    Quang Minh Tôn Giả đâu phải tay vừa, cử chưởng đón chiêu, tạo thành trái cầu khí xanh mờ, chưởng kình chạm nhau nổ vang rền, song phương đều lui lại, khóe miệng rỉ máu. Nhưng Quang Minh Tôn Giả bị thương nặng hơn, vì trúng một đòn vào ngực. Lão vô cùng kinh ngạc không hiểu vì sao? Còn Tề Tổng Giám thọ thương vì dư kình của Thanh Vân chưởng pháp, công lực của Khúc Tú Sơn thâm hậu hơn họ Tề một bậc.
    Tề Phi Tuyết căm hận xông vào đánh tiếp. Nhưng thế trận quân bình không dễ gì kết liễu được ngay.
    Ngược lại, Tam Tứ Phán Quan đang gặp nguy hiểm vì phải đấu với ba tay đại cao thủ là Hải Hà Tiên Tử, Đông Nhạc Thần Đao và Bắc Nhạc Quỷ Trảo.
    Nếu không nhờ ®o ®nh Thần Bộ linh hoạt tuyệt luân thì họ dã bỏ mạng sau vài chục chiêu.
    Mười gã quỷ tốt U Linh Cốc cũng khốn đốn trong vòng vây của hàng tram giáo đồ Thần Tiên Giáo. Chất độc Vụ Tảo Thiên Quân đã mất tác dụng nên đám quỷ tốt chỉ còn cách chạy quanh, dùng hai tay không mà chống đỡ với những thanh đao sắc bén.
    Nhưng đột nhiên, từ sau lưng phe Hải Hà Tiên Tử xuất hiện tám bóng người. Họ lướt nhanh khắp trận dịa, song chưởng vù vù đẩy ra những luồng khói trắng, khiến đám thủ hạ Thần Tiên Giáo ngã lăn như rạ.
    Đồng thời có tiếng nữ nhân trong trẻo:
    - Phụ thân yên tâm. Hài nhi đã đưa người đến!
    Và Tề Đạm Vân tung mình bủa chưởng xuống đầu Quang Minh Tôn Giả.
    Bản lãnh nàng tương đương với các Phán Quan nên thế trận đảo ngược ngay.
    Tề Phi Tuyết hứng chí xuất chiêu ®o ®o Vi Huyền, trong lúc Đạm Vân phối hợp bằng chiêu U Linh Thám Hoa!
    Quang Minh Tôn Giả vội xoay tít ẩn mình trong đám mây chưởng ảnh dầy đặc. Chiêu chưởng của Đạm Vân không phá được lớp mây cương khí, nhưng cũng nhờ vậy, Tề Tổng Giám đã đưa được một đạo chưởng kình vào ngực đối phương.
    Khúc Tú Sơn hộc máu thành vòi, sợ hãi đào tẩu ngay. Cha con Đạm Vân không truy đuổi mà quay sang hỗ trợ nhị vị Phán Quan!
    Tề Tổng Giám giật mình khi thấy nữ lang áo trắng, tóc xõa dài đang chặn đánh Hải Hà Tiên Tử. Thân hình nàng chập chờn, bay lượn trong lưới kiếm với thân pháp thần diệu phi thường. Tề Phi Tuyết tự lượng khinh công của mình cũng không thể sánh bằng.
    Đạm Vân liền giới thiệu:
    - Phụ thân, chính thất của Hãn Thanh đấy!
    Họ Tề gật gù:
    - Tiểu Hầu Gia quả là có số đào hoa, lấy được toàn những bậc kỳ nữ tài mạo song toàn!
    Ông yên tâm cùng Đạm Vân xông vào tấn công Quỷ Trảo và Thần Đao.
    Hai người ra tay rất quyết liệt, chiêu dầu đã dồn toàn nlực nhân lúc đối phương đang bận rộn với Tam Tứ Phán Quan nên đắc thủ ngay.
    ®o ®nh chưởng pháp quỉ dị vô song, trăm chưởng chỉ có một là thực, đáng văng hai lão ác ma.
    Thực ra, chiêu thức này càng phức tạp thì đạo lực càng nhẹ, vì vậy, hai nạn nhân không chết, chỉ mang thương mà đào thoát.
    Bên kia, Hải Hà Tiên Tử thấy đồng đảng bôn đào cả. Vội xuất tuyệt chiêu. Kiếm thuật của mụ đã đến mức Đăng Phong Tạo Cực nên kiếm khí rít lên veo veo, lạnh lẽo cả không gian.
    Tiểu Thuần không dám đón chiêu, bốc thẳng lên cao hai trượng để tránh đòn, và phản kích bằng mười đạo chỉ phong mãnh liệt.
    Tề Tổng Giám hào hứng thét vang:
    - Nhất ém Thần Chỉ!
    Tuyệt học này, cùng với Nhất Dương Chỉ của phái Toàn Chân, đã thất truyền từ lâu, nhưng danh tiéng còn khiến lòng người khiếp sợ.
    Tuy chỉ kình không phá nổi màn kiếm quang, cũng khiến trường kiếm rung lên. Hải Hà Tiên Tử chẳng dám diên trì, tung mình vào đám loạn thạch biến mất.
    Bọn giáo đồ còn sót lại vài chục tên cũng chuồn theo giáo chủ.
    Tam, Tứ Phán Quan nghiêng mình tạ tội với Tề Phi Tuyết:
    - Bọn tiểu muội tuy có tình ý với Hồ Vượng nhưng không hề tham dự âm mưu phản trắc này. Mong Tổng Giám lượng giải cho.
    Họ Tề vui vẻ đáp:
    - Nếu không có nhị vị thì Tề mỗ đã bị Hồ Vượng hạ độc thủ rồi. Đấy là công chứ không phải tội.
    Bọn Tiểu Thuần bước đến ra mắt Tề Tổng Giám và hai Phán Quan. Tề Phi Tuyết tủm tỉm hỏi:
    - Sao chư vị lại có mặt đúng lúc như vậy?
    Bạch Thần Y liền kể lại việc Hãn Thanh sắp chết, cần có Bạch Hỏa Quả.
    Tề Tổng Giám rầu rĩ nói:
    - Lão phu đã tận lực mà không sao vào được. Nếy Bạnh lão huynh không có phương sách khác, e rằng Hãn Thanh nguy mất.
    Bạch Thần Y mỉm cười:
    - Lão phu đã nám chắc phần thắng mới đến đây. Mời Cốc chủ và mọi người xem thủ đoạn của già này.
    Đoàn người mừng rỡ tiến về phía cửa động. Đến nơi, Bạch lão lấy ra một trái cầu lớn bằng quả chanh, trao cho Tiểu Thuần:
    - Thuần nhi có khinh công cao cường nhất, hãy bất thần lướt vào, ném trái Thiên Địa Mê Cầu này, rồi trở ra ngay. Với loại mê dược này, không người hay vật nào chống lại nỗi.
    Tiểu Thuần phụng ý thi hành ngay. Nàng vận khí, lao vào động khẩu, trong chớp mắt đã vượt đoạn đường hầm dài sáu trượng. Khi còn cách hang lớn bên trong chừng hon trượng, Tiểu Thuần vung tay ném mê cầu. Tiếng nổ tuy nhỏ nhưng khói xanh tỏa ra mịt mù. Nàng trở ra an toàn, cùng mọi người đứng đợi.
    Hơn khắc sau, Bạch Thần Y cho mỗi người một viên giải dược rồi tiến vào. Bọn quỉ tốt đều ở lại bên ngoài để canh giữ cửa hang.
    Quả nhiên họ không hề bị ai cản trở, vào dang rất dễ dàng, khói mê đã tan hết vì thạch động thoáng gió.
    Băng Hỏa Đàm hiện ra trước mắt mọi người. Đó là một chiếc hồ tròn, đường kính ước độ mười trượng, dưới có dung nham đỏ hồng, đang sôi sùng sục. Nhưng giữa hồ là một tảng đá cao hơn mặt dung nham nửa trượng, có một cây lạ thân xanh, lá đỏ, thấp độ thân người và xa xa trên đầu ngọn cây là một mỏm thạch nhũ vươn từ trần hang xuống.
    Mỏm thạch nhũ này trắng nuốt tựa như được tạo bằng băng tuyết. Và băng liên tục chảy ra, nhỏ nước xuống linh thụ, nhưng chẳng bao giờ tan hết.
    Bạch Thần Y kinh hãi kêu lên:
    - Bạch Hỏa Quả đâu rồi?
    Thì ra quả quý đã biến mất. Tể Tổng Giám vội ra lệnh lục soát khắp nơi.
    Họ ngơ ngẩn khi không thấy một bóng nào, dù ma hay người!
    Tiểu Thuần lẩm bẩm:
    - Sao không có xác nào cả vậy?
    Bạch Nguyên Giáp hậm hực nói:
    - Như vậy là người trong hang đã hái Linh Quả thoát đi trước khi Tiểu Thuần ném mê cầu. Chẳng lẽ trong hang còn có lối khác để ra ngoài?
    Cả bọn tiến hành dọ thám vách hang, quả nhiên tìm thấy một thông lộ nhỏ dẫn lên trên ra sườn núi phía sau.
    Đạm Vân tuyệt vọng, bật khóc nức nở. Không có Bạch Hỏa Quả thì mạng của Hãn Thanh khó vãn hồi.
    Bạch Nguyên Giáp vò đầu suy nghĩ, lát sau gắt toáng lên:
    - Đừng khóc lóc nữa, không có quả thì dùng rễ và lá của linh thụ. Lão phu tin rằng sẽ cứu được Hãn Thanh, tuy không phục hồi được công lực.
    Mọi người mừng rỡ, vây lấy Bạch Thần Y. Lão nghiêm giọng nói:
    - Khoảng cách năm trượng này cần phải có dây mới được. Phiền vị nào mang vào đây.
    Tứ Phán Quan vội nói:
    - Trong lều lão thân có một cuộn dây thừng dài tám trượng.
    Dứt lời bà ta rảo bước đi ra và trở lại ngay với cuộn dây.
    Tề Tổng Giám xung phong:
    - Để lão phu vào cho! Tam muội và Tứ muội sẽ giúp một tay!
    Lão cột một đầu dây vào bụng, đầu kia trao cho Bạch Thần Y giữ, rồi cùng hai bà lão họ Lâm tiến đến sát bờ đàm.
    Hơ nóng xông lên rát mặt và đốt cong cả chòm râu đẹp của họ Tề. Hai phụ nhân đứng hai bên Tề Tổng Giám, đặt tay vào hông và nách của lão. Họ cùng đếm một, hai, ba, hợp lực tung thân hình họ Tề đi. Lão ta cũng đã dồn toàn lực vào cú nhảy, nên vượt qua được hồ lửa.
    Không dám để lâu vì sợ dây thừng bốc cháy. Tề Phi Tuyết chụp lấy thân linh thụ, xuống tấn nhổ mạnh. May thay, cả chùm rễ cũng lên theo chứ không đứt doạn. Họ Tề mừng rỡ thét lên:
    - Mau đưa lão phu trở lại!
    Lão lại đếm ra hiệu, và được bên kia kéo mạnh vào bờ an toàn.
    Đoàn người mau chóng rút khỏi hang, về chỗ Hãn Thanh đang nằm.
    Tiểu Thuần bỗng nghe nóng ruột, lướt đi trước. Khi đến cửa hang không thấy Hãn Thanh đâu, còn Hà Hồng Hương thì nằm sóng xoài trên mặt đất, Tiểu Thuần bũn rũn tay chân, thét lên ai oán:
    - Tướng công!
    Bọn Tiểu Thuần lục soát cả ba ngày trời, không tìm ra Hãn Thanh đâu đành thất thểu trở về, lòng thầm vái trời xanh, đừng để lão già áo trắng lạ mặt nào đó hãm hại Hãn Thanh.
    Hà Hồng Hương đã kể lại rằng Bạch Y Lão Giả bất thần xuất hiện, điểm huyệt nàng và cởi y phục Hãn Thanh ra sờ nắn. Lão gật gù.
    Tề Tổng Giám cả quyết rằng căn cơ Hãn Thanh rất tốt, ai thấy cũng đem lòng yêu thích. Có lẽ vị kỳ nhân áo trắng kia chính là người trong Băng Hỏa Động. Thấy chỗ ẩn cư bị khuấy phá, ông ta hái Linh Quả, dời đi chỗ khác.
    Tình cờ đi ngang qua thạch động, gặp Hãn Thanh nên bắt theo làm truyền nhân. Như vậy, Lão Giả bắt buộc phải cho chàng ăn Linh Quả để sống sót mà học nghệ.
    Luận điệu lạc quan và chí lý ấy đã an ủi được mọi người. Họ bấm bụng về Lạc Dương chờ đợi.
    Nhưng cao kiến của Tề Phi Tuyết chỉ chính xác có một nửa. Đúng là Bạch Y Lão Giả có dùng Bạch Hỏa Quả để cứu mạng Hãn Thanh nhưng với mục đích khác.
    Sau khi mọi người đi xa khỏi vùng núi Hồ Sơn, lão nhân áo trắng mới chui ra từ chỗ ẩn nấp kín đáo, trở về Băng Hỏa Động. Đến cửa hang, lão ngửa cổ hú vang. Một lát sau, hai con vượn tuyết lông trắng muốt cao gần bằng một người lớn xuất hiện. Gương mặt chúng có màu vàng nhạt, với đôi mắt đỏ như lửa.
    Loài tuyết vượn này rất hiếm, thường chỉ có trên đỉnh dãy Côn Luân, phía Nam cao nguyên Tây Tạng.
    Hai con vượn đứng thẳng lưng chắp tay chờ lệnh. Bạch Y Lão Giả không ra hiệu mà nói bằng tiếng của con người:
    - Đại Bạch đi hái quả và săn thú, còn Tiểu Bạch ở lại canh cửa động.
    Thế mà hai con vật kia vẫn hiểu được, mau mắn thi hành.
    Sáu hôm sau, ngay ngày đầu tháng mười, và cũng là lúc mà những bông tuyết mùa đông rơi xuống vùng quan tái thì Hãn Thanh tỉnh lại.
    Chàng ngơ ngác nhận ra mình đang nằm trên sàn của một hang động rộng rãi, ấm áp. Lúc ngồi dậy, chàng mới biết hai chân mình bị khóa chặt bởi một sợi xích đen xì, cọng lớn bằng ngón tay.
    Hãn Thanh nhìn quanh, thấy gần đấy có một lão nhân áo trắng và hai con vượn bạch đang ngồi ăn. Chàng nhẹ nhàng nằm xuống, thử kiểm tra thân thể, thấy đan điền đã có chân khí hội tụ, nhưng khi luân chuyển đến huyệt Cự Khuyết ở mạch Nhâm thì bế tắc.
    Chàng biết đối phương đã dùng một thủ pháp độc môn phong tỏa công lực của mình. Hãn Thanh chán nản thở dài, nào ngờ lão nhân áo trắng phát hiện ra ngay. Lão bước đến tươi cười:
    - Thì ra Tiểu Nhai Nhai đã hồi tỉnh!
    Hãn Thanh ngồi lên hỏi:
    - Vì sao lão tiền bối lại giam cầm tại hạ thế này?
    Lão nhân cười âm hiểm:
    - Lão phu dùng Bạch Hỏa Quả cứu mạng ngươi nên có toàn quyền định đoạt số phận.
    Hãn Thanh ngơ ngác hỏi:
    - Chẳng lẽ đây lại là ém Dương Linh Cảnh? Nhưng ai đã đưa tại hạ đến nơi này?
    Lão nhân gật đầu nghiêm giọng:
    - Lão phu nhân lúc bọn bên ngoài đánh nhau, thoát ra ngoài tình cờ gặp ngươi đang nằm trên một động khẩu trên sườn núi mé tả, nên bắt về đây. Có một thiếu nữ rất đẹp ngồi cạnh ngươi, lão phu đã điểm huyệt nàng ta.
    Hãn Thanh đoán ràng ba vị phu nhân đã đưa mình đến đây tìm Linh Quả chữa bệnh, chàng băn khoăn hỏi thêm:
    - Nhưng họ đâu cả rồi?
    Lão nhân cười nhạt:
    - Bọn U Linh Cốc đến đây đã hơn tháng mà không vào được Băng Hỏa Động. Mười ngày trước, Thần Tiên Giáo kéo trăm thủ hạ đến vây chặt uy hiếp lão Tề. Nhưng nhờ con gái lão và bảy người khác hỗ trợ nên phe Thần Tiên Giáo thảm bại rút lui, còn phe U Linh Cốc và các phu nhân, thủ hạ của ngươi cũng đã rời Hồ Sơn khi tìm mãi mà không thấy ngươi đâu cả.
    Hãn Thanh yên tâm về số phận của người thân, điềm nhiên hỏi:
    - Tiền bối hy sinh Bạch Hỏa Quả để cứu mạng tại hạ, chắc cũng có thâm ý chứ chẳng phải vì lòng hào hiệp?
    Lão nhân gật gù:
    - Đúng vậy! Lão phu là Quế Lâm Y Øn Tiên Lĩnh Nam, người đất Quảng Tây. Nam trước, lão phu tình cờ tìm được một quyển cổ thư, nói về công dụng của Bạch Hỏa Quả trong ém Dương Linh Cảnh, và còn nói rõ vị trí núi Hồ Sơn. Chính vì vậy mà lão phu mới lặn lội đến đây dùng Cổ Trùng thâu phục hai con tuyết viên này. Nhưng Linh Quả chưa đến lúc chín mùi, nên lão phải ở lại đợi chờ. Hơn tháng trước, bọn Tề đến đây tìm cách vào động, nhưng không qua nổi chưởng kình của hai con vượn tuyết. Họ đành phải cắm lều bám trại. Qua lời họ bàn bạc, lão phu mới biết người quá sáu mươi không thể xử dụng Bạch Hỏa Quả. Nhưng lão thần y họ Hồ kia cũng vô tình tiết lộ phương thức tá huyết truyền công, nghĩa là phải hấp thụ Linh Quả qua máu huyết của người trẻ tuổi. Do đó, lão phu đã chọn ngươi.
    Hãn Thanh đã hiểu ngọn ngành, chàng nhìn gương mặt lưỡi cày thâm đợc kia, thở dài bảo:
    - Tại hạ như cá nằm trên thớt, tiền bối muốn xử lý thế nào cũng được!
    Thanh này vốn không coi trọng việc tử sinh.
    Tiên Lĩnh Nam tỏ vẻ hài lòng:
    - Ngươi ngoan ngoãn như vậy là rất tốt, phản kháng chỉ khổ thân mà thôi! Lão phu hứa sẽ hậu đãi trong những ngày cuối cùng này.
    Ngay sau đó, Tiên Y Øn tiến hành lấy máu Hãn Thanh. Chàng lặng lẽ để lão cắt mạch máu, hứng đầy chung sứ, không hề có cử chỉ phản kháng.
    Tiên Lĩnh Nam uống xong, lập tức chạy lên đỉnh Hồ Sơn lạnh giá mà tọa công, duy hóa dược lực.
    Hai con tuyết viên mang trái cây lại cho chàng ăn. Hãn Thanh mỉm cười hiền hòa, vuốt ve lớp lông óng mượt như tơ, Đại Bạch và Tiểu Bạch vô cùng thích thú, bốc đào mời chàng ăn. Hãn Thanh biết chúng hiểu tiếng người, và đã thấy Quế Lâm Y Øn ra lệnh. Chàng vui vẻ hỏi chuyện và được đáp lại bằng động tác, cùng những tiếng khọt khẹt.
    Đến ngày thứ bảy thì tình cảm giữa chàng và hai con vượn rất nồng thắm. Đơn giản là vì họ Tiên chỉ ra lênh và dọa nạt chứ chẳng bao giờ có cử chỉ thân ái đối với đôi vượn này cả.
    Hãn Thanh đã được chứng kiến cảnh Tiên lão ma phát động cổ trùng để hành hạ hai con tuyết viên vì chúng không săn được thịt.
    Đêm đêm, Hãn Thanh vẫn âm thầm tìm cách giải tỏa huyệt Cự Khuyết.
    Chàng nghiển ngẫm lại Nhất Nguyên Tâm Pháp, lưu chuyển chân khí theo nhiều hướng, nhưng cũng chỉ hoài công.
    Hãn Thanh chỉ được ăn trái toàn cây nên cơ thể ngày càng bạc nhược, vì liên tục bị rút máu.
    Chàng hơi ngạc nhiên khi thấy đôi lúc Tiên Lĩnh Nam nhìn Tiểu Viên bằng ánh mắt dâm tà, và thời gian tọa công cũng lâu hơn.
    Hãn Thanh trầm ngâm suy nghĩ, cuối cùng hiểu rằng trong máu chàng có dược tính cường dương Hồng Sắc Mãng Xà. Họ Tiên uống máu của chàng tất lửa dục sẽ ngày một tăng lên. Chàng cười thầmm khi nghĩ đến lúc đối phương không kềm nổi, phải giao hợp với con vượn cái Tiểu Bạch.
    Sáng ngày thứ mười, Tiên lão ma vừa uống xong chén máu, chưa kịp rời khỏi Băng Hòa Động thì đã mất lương tri. Dâm dược trong mười chung máu tích tụ lại và đến giờ phát tác.
    Họ Tiên cỡi sạch y phục, lao vào Tiểu Viên, cố đè ngữa nó ra mà cưỡng bức.
    Loài người có thể ái ân bất cứ lúc nào nhưng loài vượn động dục theo mùa, chủ yếu để sinh sản bảo tồn nòi giống, chứ không phải vì khoái cảm.
    Chính vì thế Tiểu Bạch chống cự quyết liệt và rú lên những tiếng bi ai, như cầu cứu con vượn đực Đại Bạch. Dù rất sợ hãi chủ nhân nhưng bản năng dã thú của Đại Bạch đã nổi dậy.
    Loài vượn tuyết rất chung thủy, khi kết hôn thì không bao giờ tìm đến con khác nữa. Vì vậy, vượn đực luôn bảo vệ, giữ gìn cô vợ của mình. Giờ đây, trong mắt Đại Bạch thì họ Tiên chỉ là một con vượn đực khác đang định cướp vợ của nó.
    Thế là Đại Bạch lao đến vung chưởng giáng vào lưng của Quế Lâm Y Øn.
    Kình lực của nó còn đẩy lùi được một đại cao thủ như Tề Phi Tuyết, thì họ Tiên làm sao chịu nổi. Lão hộc máu chết ngay và còn bị Đại Bạch cào xé đến đến bất thành nhân dạng.
    Lát sau, hai con tuyết viên bỗng ôm đầu lăn lộn vì cổ trùng mẹ trong xác Tiên Lĩnh Nam không còn bị khống chế, phát động cả cổ trùng con trong óc đôi vượn.
    Hãn Thanh thuộc làu độc kinh của Lả Di Phái, liền bước đến, cố kéo tử thi của họ Tiên, đẩy xuống lớp dung nham trong Băng Hỏa Động.
    Chỉ trong nháy mắt, xác lão đã thành tro bụi, bay mùi khét lẹt. Cổ mẫu chết thì cổ trùng con cùng chết theo, hai con tuyết viên hết đau đớn, mừng rỡ đứng lên.
    Hãn Thanh dùng lời nói và dấu hiệu để giải thích cho chúng hiểu rằng chúng được tự do, không còn bị khống chế bởi lão già gian ác kia nữa.
    Cuối cùng thì đôi vượn cũng hiểu ra, vui vẻ nhẩy nhót và hú lên những tiếng kêu của loài vượn là âm thanh cao nhất trong rừng. Chẳng có con thú bốn chân hay người nào có thể đạt tới âm vực ấy.
    Hãn Thanh đã biết chỗ Tiên lão ma giấu sách vỡ, thuốc men, liền mở ra tìm thử. Ngoài quyển y kinh dầy cộm, còn có một tập sách mỏng, nhan đề là Kỳ Kinh Ngoại Huyệt Thủ Pháp.
    Chàng mở xem, hân hoan nhận ra cách giải huyệt Cự Khuyết. Họ Tiên là lang trung, đương nhiên phải có hộp kim châm cứu bằng bạc. Hãn Thanh liền châm vào ba huyệt ngoài kinh là Vi Thượng, Dung Bào, Tử Cung rồi vận khí điều tức.
    Quả nhiên, luồng chân nguyên đi qua huyệt Cự Khuyết dễ dàng, cuồn cuộn lưu chuyển trong kinh mạch.
    Hãn Thanh tọa công liền bảy ngày, duy hóa hết dược lực của Bạch Hỏa Quả trong máu vào đan điền. Chàng không biết chắc rằng mình đã có thêm bao nhiêu năm tu vi, chỉ thấy cơ thể sung mãn phi thường.
    Trong thời gian ấy, đôi vượn cung cấp thức ăn rất hậu hĩnh, ngoài trái cây, còn có cả thịt rừng.
    Với công lực hùng hậu, Hãn Thanh bẻ gẫy khóa sắt, thoát cảnh xiềng xích và chuẩn bị rời ém Dương Linh Cảnh. Chàng lục lọi mật thất của Tiên lão ma, tìm ra một túi châu báu nhỏ và mấy nén vàng. Y phục của lão không nhiều nhưng cũng đủ để Hãn Thanh thay đổi.
    Sửa soạn xong xuôi, Hãn Thanh nói lời từ biệt với đôi vượn. Chúng múa may, hú lên những tiếng ngắn ngủn, đứt đoạn rất khó hiểu. Hãn Thanh phì cười, xoa đầu chúng rồi vượt trận. Lạ thay, hai con vượn tuyết thản nhiên bám theo chàng.
    Hãn Thanh rất băn khoăn vì sợ mình không làm chủ được hai con vật hung hãn, mạnh mẽ thế này. Nếu chúng buông lung thú tính, giết hại người lương thiện thì sao?
    Chàng nghiêm giọng bảo:
    - Hai ngươi muốn theo ta thì phải tuyệt đối tuân lệnh, không được vô cớ giết người. Khi nào có lệnh của ta mới được ra tay!
    Miệng nói mà tay chàng cũng phải ra dấu và đôi tuyết viên gật đầu lia lịa.
    Hãn Thanh không chắc ăn nhưng chúng không chịu rời xa thì chẳng biết làm sao, đành phải chấp nhận.

  10. #29
    Join Date
    Sep 2010
    Bài Viết
    51,725
    Thanks
    1
    Được Cám Ơn 26 Lần
    Trong 26 Bài Viết
    Hồi 11

    Hồi Gia Đã Song Ma
    Đông Hải Phu Thê Biệt

    Hãn Thanh nhắm hướng Đông Bắc phóng thật nhanh. Chàng biết thành Du Lâm ở cách đây vài chục dặm. Hãn Thanh muốn trắc nghiệm công lực bản thân nên dồn toàn lực bản thân vào đôi chân. Chàng hân hoan nhận ra thân pháp của mình giờ đây nhanh nhẹn hơn cả U Linh Tứ Vệ. Thế mà đôi vượn vẫn bám theo sát nút, không hề chịu kém một bước nào, chúng chạy bằng cả bốn chi, mỗi cái búng mình đã vượt quảng đường ba trượng, thân ảnh chỉ còn lờ mờ như bóng ma.
    Hai khắc sau, Hãn Thanh ra đến đường quan đạo, cách cửa Nam thành Du Lâm vài dặm. Người ngựa qua lại khá đông, chàng và hai con vượn phải đi chậm rãi để dân chúng khỏi tò mò.
    Nhưng đôi tuyết viên hiếm có đã không thoát khỏi những đôi mắt hiếu kỳ. Người ta ngắm nhìn, xôn xao, bàn tán và đổ ra vệ đường mà xem cho mãn nhãn. Đại Bạch và Tiểu Bạch chưa bao giờ thấy nhiều người đến thế, chúng sợ hãi đi nép vào Hãn Thanh, nắm lấy tay chàng.
    Hãn Thanh mỉm cười trấn an chúng:
    - Họ thấy hai người xinh đẹp nên ngắm nghía đấy thôi! Họ không có ác ý gì đâu!
    Có lẽ chúng không hiểu được thế nào là đẹp xấu nên vẫn rụt rè.
    Hãn Thanh biết không thể để kéo dài cảnh này, liền vòng tay hỏi một lão già:
    - Mong lão bá cho biết nơi nào có bán ngựa và xe?
    Lão vui vẻ chỉ lên hướng Bắc:
    - Cách cửa thành một dặm có mục trường của lão họ Vương. Lão ta cũng bán cả xe nữa. Tráng sĩ cứ đến đấy mà mua.
    Hãn Thanh cảm tạ rồi rảo bước, lát sau, chàng đã chễm chệ trên cỗ xe có mui bằng vải bạt.
    Vùng quan tái phía Bắc Thiểm Tây cực kỳ lạnh giá, mới đầu Đông mà tuyết đã rơi dày, không gian u ám vì vầng dương chính ngọ chỉ chiếu sáng lờ mờ. Hãn Thanh ghé vào tiệm bán y phục bên đường trục chính trong thành mua ít áo quần.
    Thấy chàng khoác áo ngự bào, đội nón rộng vành, đôi vượn cũng kéo tay chàng đòi hỏi...
    Hãn Thanh cười xòa, nghĩ như vậy cũng hay, liền bảo chủ tiệm lấy thêm hai tấm áo khoác lông cừu và nón tre.
    Chúng thấp hơn chàng nên tà áo phủ đến cổ chân, nếu thêm đôi ủng da nữa thì che được gần hết cơ thể.
    Đại Bạch và Tiểu Bạch có dáng đi thẳng đứng như người nhưng hơi khệnh khạng một chút, vì vậy người trong tiệm phì cười khi thấy chúng xênh xang áo mới.
    Lúc đầu, khi thấy đôi vượn to lớn bước vào ai cũng khiếp vía, giờ mới yên tâm mà cười nói:
    - Râu ria của Hãn Thanh mọc đầy nửa mặt, chàng vẫn để nguyên, không buồn cạo. Mua thêm lương thực và nước uống, chất đầy vào xe xong, chàng rời Du Lâm, đi về hướng Tây.
    Mười ngày sau, Hãn Thanh đến Tinh Châu, ghé vào thăm Hà gia trang.
    Chàng lặng người khi thấy cơ ngơi của Tinh Châu Tài Thần giờ chỉ còn là đống gạch đá cháy đen, nham nhở.
    Chàng hỏi thăm tòa thất phía trước, nghe nói họ bị tập kích đêm mười chín. Đêm ấy, trời nổi dông tố, và tối đen như mực, cát đá bay đầy thành, sáng ra người chung quanh mới biết Hà gia trang đã cháy rụi và đầy xác chết.
    Hãn Thanh đoán rằng đây là thủ đoạn của Thần Tiên Giáo, lòng vô cùng lo lắng cho Mộ Dung Hầu Phủ, liền quất ngựa chạy như bay. Chàng kiêm trình ngày đêm, thay ngựa bốn lần mới đến được bờ bắc Hoàng Hà vào trưa ngày mùng tám tháng mười một.
    Hãn Thanh bỏ xe ngựa, mướn thuyền con sang sông, rồi cùng đôi vượn trổ khinh công chạy về Lạc Dương. Lòng chàng nóng như lửa dốt nên chẳng còn lưỡng lự gì nữa, cùng Đại Bạch và Tiểu Bạch lướt đi như ba chiếc bóng, khiến người trên đường phải trố mắt ra nhìn.
    Ngay tối hôm ấy, họ vượt sông Lạc Hà vào thành Lạc Dương. Hãn Thanh nhận ra có nhiều toán nhân thủ đi về hướng Hầu Phủ, liền đủng đỉnh bám theo.
    Năm nay trời rét đậm, vùng phía Nam Hoàng Hà cũng đổ tuyết tơi bời.
    Bách tính lên giường sớm, đường trong thành vắng tanh, dù chỉ mới giữa canh hai.
    Thấy Hầu Phủ vẫn còn nguyên vẹn, chàng thở phào nhẹ nhõm. Hãn Thanh giả trang, quàng vai đôi vượn, ngả nghiêng đi hết một vòng quanh phủ để xem cách bố trí của đối phương.
    Hầu Phủ chiếm tọa một khu đất rộng hai mươi mẫu vuông, đại môn nằm trên đường trục chính Bắc Nam, ba phía còn lại đều giáp với đường lộ nhỏ.
    Với chu vi rộng như vậy, việc phòng thủ sẽ rất khó khăn vì không đủ quân số để rải ra. Trước giờ, Hầu phủ vẫn vững vàng là nhờ có doanh trại của Tổng Binh Lạc Dương đóng ở gần đấy. Nhưng qua trường hợp của Hà gia trang, chàng sợ rằng ưu thế kia không còn quan trọng. Bằng chứng là thủ hạ của Thần Tiên Giáo đã tràn ngập khu vực này.
    Nhân số gia đinh trong Hầu Phủ chỉ độ hơn trăm, khó mà chống lại một cuộc tập kích vũ bão và chớp nhoáng.
    Đến một đoạn vắng phía sau Hầu Phủ, thấy chung quanh không có ai, Hãn Thanh lao vút lên đầu tường. Độ cao trượng rưỡi chẳng thể làm khó dễ chàng và đôi vượn tuyết.
    Tuy không bị phát hiện nhưng Hãn Thanh cũng hài lòng khi thấy những chốt canh được rải khắp nơi. Vậy là Nhất Bất Thông đã biết tin dữ ở Hà gia trang nên tăng cường việc phòng thủ. Bọn người đang ẩn mình trên cây kia không có lỗi vì thân pháp của chàng giờ đây đã đạt đến mức thần sầu quỉ khốc, vô thanh vô cảnh.
    Chàng lại thông thuộc địa hình nên tiến vào rất dễ dàng, người lạ chẳng thể được như vậy.
    Vượt hết vườn hoa, Hãn Thanh bảo hai con vượn lên cây hòe cổ thụ phía sau khu hậu viện.
    Trong những ngày bôn hành, chàng và chúng có dịp gần gũi nên rất hiểu ý nhau. Do chúng không chịu ở trong thùng xe ngột ngạt, thường ra phía trước ngồi cạnh chàng. Hãn Thanh dần dần hiểu được ý nghĩa chủa những âm thanh và cử chỉ kia.
    Có đôi thần vật trấn giữ mặt sau, Hãn Thanh yên tâm tiến vào. Thấy cửa sổ phòng Tiểu Thuần còn le lói ánh đền, chàng háo hức áp sát nép bên song của.
    Tiểu Thuần vẫn giữ lối trang phục cố hữu, luôn luôn là một màu trắng trinh nguyên và mái tóc huyền buông xõa ôm lấy gương mặt xanh xao.
    Giờ đây, nàng ngồi một mình nhìn ngọn nến chập chờn, nước mắt chảy dài trên má. Tuy không hề trang điểm nhưng nàng vẫn là người xinh đẹp nhất trong bốn vị phu nhân của Hãn Thanh. Chàng không hề biết nàng bao nhiêu tuổi và cũng không bao giờ hỏi, chàng chỉ biết mình yêu nàng bằng trái tim nồng thắm. Tiểu Thuần là mối tình đầu huyền hoặc của cậu bé mười ba tuổi, nên mãi mãi chẳng phai mờ.
    Bỗng Tiểu Thuần đứng lên mở cửa rời phòng, có lẽ để đi vệ sinh. Hãn Thanh mừng rỡ bẻ cong song sắt chui vào rồi sửa lại như cũ. Chàng nhanh nhẹn nhảy lên giường, trùm kín trong chăn, hồi hộp chờ đợi.
    Tiểu Thuần đã hí lộng chàng quá nhiều, giờ đây chàng phải trả đũa! Hãn Thanh còn trẻ nên đôi lúc cũng rất tinh nghịch.
    Thấy Tiểu Thuần trở lại, Hãn Thanh bế khí nằm im trong bóng tối, vì biết võ công nàng rất thâm hậu.
    Tiểu Thuần vô tình, điềm nhiên nằm xuống giường. Nàng đã tắt nến nên không thể nhận ra một đống lù lù ở mé trong.
    Hãn Thanh lập tức vươn tay điểm nhanh vào hai huyệtCơ Môn trên đùi và hai huyệt Kiên Nguy trên vai đẻ phong tỏa tứ các hạ Tiểu Thuần. Chàng không quên điểm luôn huyệt Quyền Liêu để khóa xương hàm, phòng nàng cắn lưỡi tự sát và huyệt Á Môn để nàng khỏi la hét.
    Sau khi ăn được Bạch Hỏa Quả, nhãn lực Hãn Thanh có thể nhìn xuyên đêm tối nên thủ pháp rất chuẩn xác.
    Chàng còn thấy rõ dôi mắt huyền kia trợn tròn vì sợ hãi. Hãn Thanh bất nhẫn cúi xuống hôn lên trán nàng rồi thì thầm:
    - Nàng là Bạch Nhật Quỷ Hồn còn ta là Tuyết Phụ Hồ Ly đây!
    Nghe giọng nói quen thuộc, Tiểu Thuần ứa lệ. Vừa được giải huyệt đã ôm lấy trượng phu khóc vùi. Tính nàng kín đáo nên không khóc thành tiếng, chỉ nấc nhẹ, vai gầy run rẩy.
    Lửa dục trong người Hãn Thanh rất vượng, nếu không nhờ Nhất Nguyên Tâm Pháp mầu nhiệm thì chàng đã biến thành kẻ dâm đãng. Nhưng đối với ái thê thì chàng chẳng cần phải giữ gìn, gầy ngay cuộc ái ân cho bõ những ngày xa cách.
    Tiểu Thuần thẹn thùng đón nhận, bồng bềnh trong giấc mộng vu sơn.
    Hãn Thanh xiết chặt thân hình óng ả thon dài, liên tiếp đưa nàng đến những bến bờ hoan lạc.
    Cuối canh ba hai người vẫn chưa chịu rời nhau. Trời bổng nổi cơn giông gió, thổi ào ào như muốn lật cả mái ngói và hành lang.
    Hãn Thanh thì thầm:
    - Chắc là bọn Thần Tiên Giáo tấn công. Ta đã phát hiện có rất nhiều người khả nghi quanh phủ.
    Tiểu Thuần trách yêu:
    - Vậy sao tướng công không nói sớm mà cứ đắm mình vào chuyện mây mưa?
    Hãn Thanh mỉm cười:
    - Võ công của ta giờ đây còn cao siêu hơn cả nàng, lẽ nào lại sợ hãi đối phương mà không dám ôm ấp ái thê?
    Tiểu Thuần mừng rỡ nói:
    - Thế thì hay lắm! Thần Tiên Giáo đã liên kết với Nam Thiên Quỷ Hồ Thập Bát Động ở Tứ Xuyên để khuynh đảo võ lâm. Nam Thiên Tổng Giám Tư không Nhạ võ công cao cường và lại có tài hô phong hoán vũ. Chính lão đã tạo ra cơn giông tố ở Tinh Châu, cầm chân quan quân mà tiêu diệt Hà gia trang.
    Hãn Thanh vội hỏi:
    - Hà nhạc phụ, nhạc mẫu có sao không?
    Tiểu Thuần lắc đầu:
    - May mà Hà Tài Thần đã chuẩn bị sẵn đường ngầm trổ ra bờ sông nên Phi Châm Môn thiệt hại không đáng kể. Hiện giờ họ đang có mặt ở đây.
    Hãn Thanh đã hiểu vì sao Hầu Phủ lại có đủ người để lập phòng tuyến dày đặc như vậy!
    Chợt nhớ tới hai con vượn trên cây hòe, Hãn Thanh vội mặc y phục, mở cửa sau chạy ra vườn gọi chúng.
    Đại Bạch và Tiểu Bạch đang khốn khổ vì cơn giông đe dọa nhổ bật gốc cây hòe, mừng rỡ nhảy xuống ngay. Hai chiếc nón rộng vành đã bay mất từ lâu.
    Hãn Thanh đưa chúng vào phòng, giới thiệu với Tiểu Thuần:
    - Day là Đại Bạch và Tiểu Bạch, kẻ trấn giữ Băng Hỏa Động!
    Chàng bảo hai con vật:
    - Hãy chào đại phu nhân!
    Đôi vượn vòng tay cúi chào rất ngộ nghĩnh. Tiểu Thuần thích thú vuốt ve chúng:
    - Ôi chao! Sao chúng đáng yêu quá!
    Bỗng phía sau vang lên tiếng quát tháo, tiếng vũ khí va chạm vang trời.
    Hãn Thanh, Tiểu Thuần vội chạy ra xem. Chàng phát hiện phía Bắc thành có một đám cháy lớn, liền bảo Tiểu Thuần:
    - Không những chúng dùng tà thuật mà còn đốt kho lương thảo để quân triều đình phải lo cứu hỏa, không thể hổ trợ Hầu Phủ.
    Tiểu Thuần trấn an:
    - Tướng công yên tâm, lực lượng của U Linh Cốc cũng đã bí mật có mặt trong phủ, chúng ta đang giăng một mẻ lưới, chờ đợi bọn Thần Tiên Giáo!
    Nàng chỉ lên nóc đại sảnh hai tầng:
    - Tướng công nhìn kìa! Đại Phán Quan Diệp Lãm Trường đang làm phép để phá tà công của đối phương!
    Hãn Thanh nhìn lên, thấy một lão nhân mặc đạo bào trắng, tóc xõa đứng giữa hai người cầm đuốc. Đây là loại đuốc lân hỏa, tỏa ánh sáng xanh mờ, không tắt vì gió bão.
    Đạo nhân kia tay cầm kiếm gỗ, tay cầm bó nhang, vẽ vào không trung những đường nét lạ lùng, miệng lâm râm khấn niệm.
    Kỳ diệu thay, lát sau giông tạnh gió ngừng và Hầu Phủ sáng rực bởi mấy trăm ngọn đuốc. Phe đối phương hiện rõ là những gã mặc hắc y đen kịt.
    Chúng chưa kịp hết ngơ ngác thì bị những mũi tên từ lùm cây, bụi hoa bay đến cắm vào cơ thể.
    Tài xạ tiễn của đám môn nhân nhà Mộ Dung có sẵn trong huyết thống, chuẩn xác không thua người Mông Cổ.
    Hãn Thanh thấy mặt trận phía sau rất vững vàng, liền kéo Tiểu Thuần ra phía trước.
    Bọn thủ lĩnh Thần Tiên Giáo rất cao ngạo nên không thèm vào từ phía sau. Họ nhân lúc giông tố mịt mù, vượt tường vào thẳng sân gạch, bị trận mưa tên cầm chân.
    Giờ đây, dưới ánh đuốc sáng rực, hai phe đang đứng đối diện nhau. Tuy thấy Hầu Phủ được phòng vệ nghiêm mật, vững chắc, nhưng Hải Hà Tiên Tử vẫn tin vào thắng lợi, vì mụ đã đem theo toàn bộ những cao thủ đầu não.
    Nếu mụ biết rằng trong tầng dưới tối om của tòa đại lâu có cả Tề Tổng Giám và năm vị Phán Quan thì sẽ không còn đắc ý nữa.
    Trên lan can lầu là ba người vợ của Hãn Thanh và bọn Chu Minh, Bạch Nguyên Giáp.
    Không thấy Lão Hầu Gia đâu, Hãn Thanh hỏi Tiểu Thuần:
    - Phải chăng gia gia đang ở trong mật thất?
    Nàng gật đầu, đưa chàng vào cửa sau đại sảnh. Lối xuống mật thất nằm dưới chân cầu thang lên lầu.
    Lão Hầu Gia đang ngồi trò chuyện với Đại Phán Quan, cạnh khay trà và giá nến. Trông Mộ Dung Cẩn như già đi nhiều. Tuy tin vào tướng số, nhưng sự mất tích quá lâu của cháu yêu đã khiến ông phiền muộn.
    Thấy có tiếng chân người bước xuống thang, ông quay ra bảo:
    - Thuần nhi đấy ư?
    Cách ăn mặc của nàng đã rất quen thuộc với Lão Hầu Gia. Sau ngày được tin Hãn Thanh mất tích ở Hồ Sơn, Mộ Dung Cẩn hầu như không ngủ được và chỉ có mình Tiểu Thuần đủ sức thức để hầu hạ, trò chuyện với ông. Lạc Bình, Hà Hồng Hương, Đạm Vân đều ngáp dài lúc nửa đêm. Riêng Tiểu Thuần vẫn tỉnh táo như loài chim đêm.
    Tiểu Thuần khẽ dạ, Lão Hầu Gia yên tâm tiếp tục đàm đạo, nên không biết rằng sau lưng Tiểu Thuần còn có một người nữa.
    Tiểu Thuần cười gọi:
    - Gia gia thử nhìn xem ai đây?
    Từ lâu rồi, nàng không có giọng nói vui vẻ như vậy. Mộ Dung Cẩn giật mình nhìn lại. Hãn Thanh phục xuống ra mắt:
    - Hãn Thanh bái kiến gia gia và Đại Phán Quan!
    Mộ Dung Cẩn run rẩy nói:
    - Tạ Ơn Phật tổ! Cháu yêu của lão phu đã về!
    Lão ôm lấy chàng, hai hàng lệ già nua tuôn như suối.
    Hãn Thanh cũng không cầm được nước mắt trước lòng yêu thương vô bờ bến của nội tổ. Chàng gượng cười:
    - Để tiểu tôn quét sạch bọn cường địch rồi sẽ hàn huyên với gia gia.
    Mộ Dung Cẩn buông chàng ra, cười khà khà:
    - Nghe khẩu khí thì dường như ngươi lại gặp kỳ duyên nữa rồi phải chẳng?
    Hãn Thanh ngượng ngùng gật đầu:
    - Tiểu tôn may mắn có thêm được vài chục năm công lực.
    Đại Phán Quan Diệp Lãm Trường bỗng nói:
    - Lão phu cho rằng công tử nên cải trang, bất thần xuất thủ mới mong hạ ngay được Hải Hà Tiên Tử. Kiếm thuật của mụ ta đã đến đỉnh cao của võ học, khó mà giết được! Mụ ta lại rất xảo quyệt, thấy nguy là đào tẩu ngay.
    Hãn Thanh tán thành:
    - Diệp đại thúc bàn rất phải, nhưng vãn bối không có mặt nạ!
    Diệp Lãm Trường mỉm cười:
    - Lão phu tuy là Đại Phán Quan nhưng võ nghệ còn kém cả Lục đệ, chỉ có chút tài môn về bùa chú tà thuật hóa trang.
    Họ Diệp mở tay nải dưới chân, lấy rương gỗ đựng dụng cụ và nói:
    - Lão phu sẽ biến công tử thành lão Hầu Gia. Đối phương khinh thường tất phải mắc mưu.
    Thân hình và gương mặt Hãn Thanh khá giống Mộ Dung Cẩn nên việc dịch dung rất dễ dàng. Tóc đen rắc phấn thành trắng, râu giả làm bằng tóc của lão Hầu Gia. Dưới ánh đuốc, khó ai phân biệt được nên chẳng cần phải quá kỹ lưỡng. Chỉ nửa khắc sau, Hãn Thanh đã biến thành lão Hầu Gia. Chàng mặc y phục của ông nội, xách thanh Hầu Tước Kiếm cùng Tiểu Thuần ra ngoài.
    Lúc này, cuộc chiến đang khốc liệt và phần thắng nghiêng về phe khách.
    Hãn Thanh cho rằng Quang Minh Tôn Giả còn đáng sợ hơn Hải Hà Tiên Tử nên quyết tìm diệt lão trước. Lúc này Tôn Giả đang đấu với Tam, Tứ Phán Quan của U Linh Cốc, ở gần thềm đại sảnh.
    Hãn Thanh giả giọng già nua:
    - Khúc Tú Sơn, mau đền mạng cho cháu ta!
    Nhất Bất Thông Chu Minh đang đứng trên lan can lầu điều động nhân thủ, kinh hãi kêu lên:
    - Sao lão Hầu Gia lại ra đây làm gì?
    Hãn Thanh không đáp, bước đến bảo hai bà lão họ Lâm:
    - Nhị vị mau tránh ra.
    Quang Minh Tôn Giả thấy con mồi xuất hiện, mừng rỡ nhẩy lùi, không đánh nữa. Hai vị Phán Quan vội cản Mộ Dung Cẩn lại, nhưng Tiểu Thuần đã ở phía sau cột truyền âm gọi họ.
    Hai người hiểu ý, giả đò lúng túng, không dám ngăn bước lão Hầu Gia nữa.
    Mộ Dung Cẩn giả đưa kiếm chỉ mặt họ Khúc mắng:
    - Lão phu sẽ lấy đầu ngươi mà tế mộ Hãn Thanh.
    Đêm nay, Thần Tiên Giáo đến đây cũng chỉ với mục đích bắt sống lão Hầu Gia, dùng tà pháp điều tra đường đi Kim Ngọc Bồng Lai Đảo. Khúc Tú Sơn thầm cân nhắc để khi xuất thủ không có hại đến mạng con tin.
    Chính vì vậy, Tôn Giả chỉ dồn có sáu thành công lực đạo vào song thủ.
    Khi lão nhận ra chiêu kiếm của đối phương hung hiểm tuyệt luân thì không còn trở tay kịp.
    Hãn Thanh đã dồn hết công lực vào chiêu Sở Phách Nan Hồi, xé toang đám mây chưởng kình xanh nhạt, thọc kiếm vào thân thể Khúc Tú Sơn.
    Thương thay cho một bậc kỳ nhân xuất chúng, vì tham sắc mà chết chẳng toàn thây. Ngực lão thủng chín lỗ và thủ cấp lăng lông lốc trên sân gạch.
    Hãn Thanh hít liền một hơi dưỡng khí, lướt nhanh về phía Hải Hà Tiên Tử. Đấu thủ của mụ chính là Bắc Thiên Quỷ Hồ Tổng Giám Tề Phi Tuyết nhạc phụ của chàng.
    Quang Minh Tôn Giả chết rất êm thắm nên Mai Thanh Phố chưa kịp nhận ra. Hơn nữa, mụ còn phải chú tâm đối phó với pho ®o ®nh Chưởng Pháp quỉ dị vô song nên không thể phân tán tư tưởng được.
    Hãn Thanh lặnh lẽ tung mình lên không xuất chiêu Vũ Lạc Bình Sa, mũi kiếm chớp lên, hóa thành muôn ngàn giọt mưa lấp lánh, phủ kín đối phương.
    Hải Hà Tiên Tử là người cơ cảnh, quyền biến, lập tức nhận ra hiểm họa.
    Mụ vũ lộng bảo kiếm, chống đỡ cả hai người.
    Nhưng giờ đây, Hãn Thanh đã có hơn hoa giáp công lực, kiếm thuật đạt đến mức vi diệu. Mũi kiếm chàng điểm như mưa vào lưới thép quanh thân đối phương. Đúng lúc màn kiếm quang kia bị chấn động bởi chưởng kình của Tề Tổng Giám, chàng thọc kiếm xuyên qua chỗ sơ hở, đâm vào ngực trái Mai Thanh Phố.
    Nhưng Tiên Tử là nữ nhân và có gò nhũ phong to tròn, khêu gợi nên đã cản bớt lực đạo của đường kiếm. Mụ chỉ bị đâm gẫy một rẽ xương lồng ngực chứ không lủng tim. Người có kiếm thuật thượng thừa ra tay rất chừng mực, và rút ngay để tránh những đòn phản kích của đối phương. Hãn Thanh quên rằng Tiên Tử là nữ nhân nên không thọc sâu mũi kiếm hơn nữa.
    Tiên Tử rú lên, trúng thêm một chưởng của Tề Tổng Giám văng ngược ra phía sau. Nhưng mụ không chết, đào tẩu mất dạng.
    Đông Nhạc Thần Đao và Bắc Nhạc Quỷ Trảo vội mở đường máu đào vong. Nhưng trong Hầu Phủ đã biết tin Hãn Thanh trở vể nên mừng rỡ, bỏ mặc phe đối phương, không thèm truy sát. Thực ra ba trăm giáo đồ Thần Tiên Giáo chỉ còn sống vài chục mạng.
    Đầu tháng chạp, Hầu Phủ rộn ràng khách bốn phương đến dự ngày đại hỉ của Tiểu Hầu Gia. Sau khi giết chết Quang Minh Tôn Giả và đả thương Hải Hà Tiên Tử thì danh tiếng của Hãn Thanh đã lẫy lừng thiên hạ.
    Tuy không nhận được thiệp mời nhưng các đại phái như Hoa Sơn, Võ Đang, Hằng Sơn, Cái Bang... đều theo phái Thiếu Lâm đến dự lễ cưới.
    Thần Tiên Giáo âm thầm khống chế các phái trong mấy năm qua, nhờ Hãn Thanh mà họ mới thoát vòng kềm tỏa.
    Cái Bang thì nhớ ơn Bất Biệt Cư Sĩ đã cứu mạng tiền nhiệm cố bang chủ Đặng Nghi Trung. Đương kim bang chủ chính là hậu nhân họ Đặng.
    Mấy chục bang hội lớn nhỏ ở Hà Nam, Hồ Bắc, Sơn Đông, Giang Tô cũng mang lễ vật đến mừng đại hỉ. Chiến thắng của Hầu Phủ đã khiến họ tăng phần dũng khí, thôi không cống nạp cho Thần Tiên Giáo nữa. Họ đồng thanh đề nghị Tiểu Hầu Gia đứng đầu cuộc tiểu trừ Thần Tiên Giáo, tiêu diệt mầm họa cho võ lâm.
    Nhất Bất Thông Chu Minh cười đáp:
    - Chư vị cứ đem lực lượng đến Lạc Dương đúng ngày đầu tháng hai, chúng ta hội quân đánh một trận là xong.
    Cử tọa đều hứa sẽ y hẹn. Nhân dịp này, Quỷ Hồ Tổng Giám tuyên bố rút lui và chức vụ Tổng Giám sẽ do Đại Phán Quan Diệp Lãm Trường nắm giữ.
    Trước khi trở về Tứ Xuyên, song thân của Tiểu Thuần đã cảnh báo rằng Nam Thiên Quỷ Hồ Thập Bát Động có ý định bành trướng vào Trung Nguyên, việc cho cao thủ hỗ trợ cho Thần Tiên Giáo chỉ là bước thăm dò. Họ sẽ mượn cớ báo thù cho ái tử Tư Không Cổn để kéo quân vào đất Hà Nam! Nam Thiên Tổng Giám Tư Không Nhạ đã kể rằng:
    Hãn Thanh vì dành gái với Tư Không Cổn đã hủy chân gã ở Hán Trung.
    Hãn Thanh ngớ người biện bạch:
    - Bẩm nhạc phụ! Tiẻu tế chưa bao giờ bước chân đến thanh lâu!
    Viên Nguyệt Hằng Nga dấm dẳng nói:
    - Lúc ấy tướng công chưa cưới bọn thiếp, nếu có giải khuây cũng chẳng sao, hà tất phải giấu diếm?
    Giọng nàng chua như dấm khiến ai cũng phì cười.
    Tề Phi Tuyết tủm tỉm nói:

  11. #1
    Join Date
    Oct 2010
    Bài Viết
    7,107
    Thanks
    9
    Được Cám Ơn 14 Lần
    Trong 14 Bài Viết

    Forget và Forgive - Nguyễn đạt Thịnh

    .

    Forget và Forgive
    Nguyễn đạt Thịnh


    Tôi đọc 2 chữ rất thông thường Forgive và Forget trong một cái email trao đổi ngày mùng 4 tháng Chạp 2014 giữa 2 người tù khổ sai cải tạo ngày trước; người thứ nhất -tên A- gửi cho B -người thứ nhì bài viết BỆNH TẬT TRONG TRẠI CẢI TẠO của bác sĩ Trần Mộng Lâm.

    Ông Lâm cũng là một tù nhân khổ sai của Việt Cộng, ông viết lại nhiều chuyện ký ức có thật, và khiếp đảm đến rợn người.




    Bác sĩ Trần Mộng Lâm


    Xin đăng lại nguyên văn câu chuyện BỆNH TẬT TRONG TRẠI CẢI TẠO do một người tù viết, được 2 người tù khác trao đổi với nhau.

    BỆNH TẬT TRONG TRẠI CẢI TẠO
    Bác sĩ Trần Mộng Lâm

    Cố Bác Sỹ Trần Vỹ, cựu bộ trưởng Bộ Y Tế thời Đệ nhất Cộng Hòa, người thầy rất đáng kính của tôi, viết trong cuốn hồi ký Tù Nhân Chính Trị của ông về cái chết của một người bạn đồng đội, chết trong trại tập trung 52-A ngoài Bắc: Đại Tá Đỗ Kiến N., cựu quận trưởng một quận Saigon (Sự thật đại tá Đỗ Kiến Nhiễu là đô trưởng Sài Gòn-Chợ Lớn). Người khá vạm vỡ, anh ấy thuộc thành phần những người chịu đựng rất khó khăn việc ăn uống thiếu thốn. Anh ấy phì ra, bị phù tất cả người và đi đứng khó khăn.

    Cán bộ y tế ngây thơ cứ tưởng rằng chỉ cần kiêng muối cho cơ thể là làm biến mất bệnh phù, đã cho anh ăn đường. Điều này đã làm cho anh suy yếu thêm. Một buổi sáng, sau một đêm lạnh hơn thường lệ trong mùa, không thấy anh cử động khi tới giờ thức dậy, nhiều bạn bè nằm gần đến đánh thức anh nhưng anh không trả lời, dù còn thở một cách yếu ớt! Đại Tá Đỗ Kiến N. đã chết sau đó.

    Thầy Trần Vỹ viết tiếp: Vì sao N chết? Vì đói, Tất cả các bạn tù thì thầm. Vì bệnh phù thủng, cán bộ công an tuyên bố.

    Ba chục năm đã qua đi kể từ cái chết đó. Ngày hôm nay, chúng ta hãy nhìn lại giai đoạn bi thảm này để suy nghĩ về những bệnh tật trong trại cải tạo.

    Người tù cải tạo suy yếu từ thể xác đến tinh thần nên rất dễ mắc bệnh.Sức đề kháng của cơ thể họ xuống thấp một cách trầm trọng nên một cơn gió, một sự thay đổi thời tiết tầm thường cũng là một lý do đủ để làm người tù bỏ mạng hay liệt giường liệt chiếu nhiều tháng trời. Một cách tổng quát, ta có thể chia ra những bệnh tật trong tù ra làm ba nhóm bệnh chính:

    1) Nhóm bệnh thứ nhất gây ra bởi sự thiếu dinh dưỡng.

    Tôi đã ở trong trại cải tạo nhiều năm trời nên đã hiểu một cách rất rõ thế nào là cái đói trong những ngày tháng đen tối đó. Hãy nghe BS Trần Vỹ kể chuyện tù tội của ông: Một buổi xế trưa, khi đến bệnh xá để lấy thuốc cho các bạn tôi, tôi đã thấy cách một vài thước trước cửa vào, một người thường phạm đã suy mòn, ngồi ngay dưới đất bụi bậm, năn nỉ không ngừng với giọng rên rỉ:

    - Ối ông cán bộ ơi, xin hãy thương sót tôi, hãy cho tôi ngay bây giờ chén cơm và cái trứng mà ông sẽ để lên quan tài khi tôi chết. Tôi đói quá, tôi không cần chúng sau khi tôi chết.

    Quả đúng là như vậy, cái đói đưa tới cái chết một cách dễ dàng. Người Y Sỹ nào cũng biết được là sự thiếu sinh tố B1 có thể làm người ta chết. Một sự thiếu sinh tố A có thể làm người ta mù, thiếu sinh tố B12 sinh ra thiếu máu, vân vân và vân vân. Nếu sự thiếu thốn đó ngắn hạn, người ta có thể chịu đựng được nhưng nếu bị cải tạo năm này qua năm khác, làm sao tránh được những cái chết thê thảm như cái chết của Đại Tá Đỗ Kiến N. như đã mô tả ở trên.

    2) Nhóm bệnh thứ nhì cũng rất quan trọng là những bệnh nhiễm trùng:

    Khi bị đưa vào U Minh để cưỡng bách lao động vào năm 1976, hai chân tôi nổi đầy những vết ghẻ lở. Vết thương này chưa lành thì lại có các vết thương khác nổi lên. Cho đến nay những vết thẹo vẫn còn đầy nơi hai cẳng chân của tôi.

    Cuối năm 1976, tôi được chỉ định làm y sỹ cho những người tù đồng bọn. Một đàn anh của tôi, cựu dân biểu của một tỉnh mà tôi quên mất tên, Kiến Phong thì phải, hai mắt và da bỗng trở nên vàng khè, nước đái sậm đen như nước mắm. Tôi biết anh bị đau gan nặng mà đề nghị gửi đi bệnh viện cán bộ không cho, nên cứ phải nhìn anh thoi thóp giữa đồng không mông quạnh của rừng núi Cà Mau. Không hiểu vì sao mà anh ta không chết, và bệnh đau gan cũng không gây nên một cơn dịch đau gan như tôi sợ. Có lẽ vì đa số chúng tôi đã có được kháng thể trong người từ lâu rồi mà không hay, không biết.

    Thầy Trần Vỹ kể lại trong sách đã nêu: Trong số những bệnh nhân có một cựu thiếu tá đã làm việc tại phủ Thủ Tướng. Anh ấy đã sốt nhiều ngày và bị đau ở ngực. Tôi đã áp tai vào lưng anh. Lúc bấy giờ tôi nghe rõ những dấu hiệu của chứng viêm phổi nhưng người ta nói không có gì trầm trọng và chích cho anh sinh tố B1. Tôi khuyên anh nên hỏi xin các bạn tù vài viên thuốc kháng sinh. Tôi không bao giờ biết được anh ta có tìm được kháng sinh hay không nhưng anh ta tiếp tục đi tới cái chòi nhỏ « bệnh xá » và vài ngày sau anh ta qua đời.

    Thật sanh mạng một người tù cải tạo rẻ như bèo.

    Người chỉ huy cũ của tôi, cựu Trung Tá Y Sỹ chỉ huy trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ trong thời gian bị cải tạo ngoài Bắc đã phải mổ gấp một trường hợp sưng ruột dư, cấp tánh cho một bạn tù trong những điều kiện rất là trung cổ, khi nghe kể lại trong lần anh ghé Montréal thăm chúng tôi, tôi còn rợn tóc gáy, nổi da gà. Nghĩa là chẳng có dao mổ, chẳng có khử trùng gì cả. Biết làm sao hơn, không mổ thì cầm chắc cái chết. Ông thầy của tôi mát tay nên đã cứu được bệnh nhân tuy anh khiêm nhường nói là: Thằng ấy số nó chưa chết .

    3) Nhóm bệnh thứ ba là nhóm bệnh thuộc về tâm thần.

    Sự tuyệt vọng gây nên những chứng bệnh mà chúng tôi gọi là Depression majeure. Người bệnh không còn thiết sống nữa. Những trường hợp tự tử tôi nghe kể lại rất nhiều tuy không chứng kiến, lý do là thời gian cải tạo của tôi tương đối ngắn, chỉ không bằng một phần nhỏ thời gian tù tội của những người khác.

    Tuy nhiên có một trường hợp mà tôi là nhân chứng đàng hoàng. Một cựu đại úy được đưa vào cưỡng bách lao động với tôi tại Kim Quy, Đá Bạc thuộc tỉnh Cà Mau. Anh ta vốn là lính kiểng, con nhà giàu, học xong bị động viên và vào quân đội mà thôi chứ tôi nghĩ cũng chưa từng giết ai bao giờ. Vào tù được ít lâu thì vợ bỏ theo cán bộ CS, trung úy công an gì đó. Cha mẹ già yếu lo buồn sau đó cũng qua đời. Ít lâu sau anh lại nhận được tin đứa con trai 5 tuổi cũng chết luôn không hiểu tại sao.

    Một đêm cuối tháng 12 chúng tôi đang nằm ngủ trong những cái chòi dựng tạm bợ giữa núi rừng Cà Mâu thì bỗng thấy tiếng ai gào lên trong đêm trường tịch mịch « ĐM HCM, ĐM HCM »

    Anh bạn đồng tù của tôi đã phát điên lên vì đau khổ.

    Ba mươi năm đã qua đi từ những kỷ niệm đau thương đó. Lòng tôi bây giờ giá lạnh. Tôi không còn hận thù gì những người đã từng làm cán bộ quản giáo của tôi. Tôi biết là họ cũng như tôi chỉ là những phần tử thụ động .Tôi sẵn sàng tha thứ cho những khuôn mặt một thời hét ra lửa mửa ra khói đó nhưng làm sao quên được những người bất hạnh? Sinh ra không đúng thời, sống không đúng chỗ.
    BS Trần Mộng Lâm

    A hỏi B "Có thể forget hay forgive được không?"

    B trả lời "Tôi đã chứng kiến quá nhiều cái chết của anh em đồng cảnh tội tù; cái chết nào cũng thê thảm, cái chết nào cũng đau thương. Đã gần 40 năm mà thỉnh thoảng tôi vẫn nằm mơ thấy mình còn ở trong tù. Thật khiếp đảm.

    Lý trí đưa ra nhiều lập luận bảo mình quên đi, và chính bản thân tôi cũng mong là mình quên đi được, tha thứ đám mọi rợ đó được. Nhưng làm cách nào để forget, để forgive? Khó trên sức tôi.

    Tôi không có tài như bác sĩ Lâm viết lại những việc làm khốn nạn của bọn mặt người dạ thú, nhưng trong suốt 17 năm dài, tôi chứng kiến tận mắt những thảm cảnh địa ngục đó. Đang ngủ, giật mình là hốt hoảng, nhìn thấy những khuôn mặt độc ác của chúng nó câng câng, thích thú trong lúc hành hạ anh em mình.

    Tôi không quên những hành động độc ác được, cũng không tha chúng nó được, dù tôi không đủ sức làm gì chúng nó.
    Xin kể lại cuộc thảo luận của 3 người tù khổ sai: bác sĩ Lâm, anh A, và anh B.
    Nguyễn đạt Thịnh

Trang 3 / 5 ĐầuĐầu 12345 Cuối Cuối

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •